Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 diễn ra tại Hà Nội từ ngày 1 đến 7/8/2026, với định hướng phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Một trong những nội dung được nhấn mạnh là chuyển mạnh từ tư duy “hỗ trợ” sang “kiến tạo” năng lực phát triển, lấy người dân, doanh nghiệp và địa phương làm trung tâm phục vụ.
Định hướng này mở ra cách tiếp cận mới đối với ngoại giao kinh tế. Thay vì chỉ hỗ trợ xử lý từng vụ việc hoặc tổ chức các hoạt động xúc tiến riêng lẻ, ngành ngoại giao được kỳ vọng tham gia chủ động hơn vào quá trình nhận diện thị trường, kết nối đối tác, thu hút công nghệ và chuyển hóa vị thế quốc tế của Việt Nam thành nguồn lực phát triển.
Tuy nhiên, để tư duy mới đi vào thực chất, doanh nghiệp không thể chỉ đứng ở vị trí thụ hưởng. Doanh nghiệp cần trở thành chủ thể trực tiếp tham gia xác định nhu cầu, đề xuất nhiệm vụ và đánh giá kết quả của hoạt động ngoại giao kinh tế.
Doanh nghiệp không chỉ là đối tượng được hỗ trợ
Trong nhiều chương trình xúc tiến đầu tư và thương mại, hiệu quả đôi khi vẫn được phản ánh qua số lượng hội nghị được tổ chức, số đoàn công tác, cuộc gặp hoặc biên bản ghi nhớ được ký kết. Những chỉ tiêu này cần thiết, nhưng chưa đủ để chứng minh nguồn lực đối ngoại đã được chuyển hóa thành giá trị phát triển.
Đối với doanh nghiệp, kết quả cuối cùng phải là khả năng tiếp cận một thị trường mới, tìm được nhà nhập khẩu, kết nối được nhà cung cấp, tiếp nhận công nghệ hoặc tháo gỡ được một rào cản cụ thể trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Vì vậy, chủ trương lấy doanh nghiệp làm trung tâm không nên chỉ được thể hiện ở việc mời doanh nghiệp tham dự hội nghị hay cung cấp thông tin sau khi một chương trình xúc tiến đã được xây dựng. Doanh nghiệp cần tham gia ngay từ giai đoạn khảo sát và xác định nhu cầu.
Trước mỗi chương trình ngoại giao kinh tế, cơ quan quản lý cần trả lời được những câu hỏi căn bản: Doanh nghiệp địa phương đang cần tiếp cận thị trường nào? Ngành hàng nào đang gặp trở ngại về tiêu chuẩn kỹ thuật? Doanh nghiệp cần vốn, công nghệ, đối tác phân phối hay nguồn nhân lực? Những thay đổi chính sách nào của thị trường quốc tế có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và xuất khẩu?.
Chỉ khi được xây dựng trên cơ sở những nhu cầu cụ thể đó, các hoạt động kết nối quốc tế mới tránh được tình trạng dàn trải, thiếu trọng tâm hoặc chưa phù hợp với khả năng thực tế của doanh nghiệp.
Từ nhu cầu thị trường đến chương trình hành động
Với An Giang, việc đưa doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng chương trình ngoại giao kinh tế càng có ý nghĩa bởi cơ cấu kinh tế của địa phương gắn chặt với nông nghiệp, thương mại, du lịch và hoạt động giao thương qua biên giới.
Các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất là những chủ thể hiểu rõ nhất các vấn đề đang đặt ra đối với từng ngành hàng. Đó có thể là yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng, kiểm dịch, bao bì, nhãn hàng, phát triển bền vững hoặc năng lực cung ứng ổn định cho các đối tác quốc tế.
Nếu không có thông tin từ doanh nghiệp, cơ quan quản lý khó xác định chính xác thị trường nào cần ưu tiên, đối tác nào cần kết nối và hình thức hỗ trợ nào đem lại hiệu quả cao nhất.
Chẳng hạn, một chương trình xúc tiến nông sản không nên chỉ dừng lại ở việc giới thiệu tiềm năng hoặc trưng bày sản phẩm. Hoạt động này cần được chuẩn bị trên cơ sở danh mục sản phẩm có năng lực xuất khẩu, sản lượng cung ứng, tiêu chuẩn đã đáp ứng, thị trường mục tiêu và những yêu cầu mà doanh nghiệp chưa thể tự giải quyết.
Tương tự, khi kêu gọi đầu tư vào chế biến nông sản, logistics, du lịch hay năng lượng sạch, địa phương cần xác định rõ doanh nghiệp trong tỉnh có thể tham gia ở khâu nào của chuỗi giá trị. Nếu doanh nghiệp địa phương không được kết nối với nhà đầu tư, không tiếp nhận được công nghệ và không trở thành nhà cung ứng, hiệu ứng lan tỏa của dự án đối với nền kinh tế địa phương sẽ bị hạn chế.
Do đó, ngoại giao kinh tế không chỉ là đưa nhà đầu tư đến địa phương, mà còn phải tạo điều kiện để doanh nghiệp bản địa nâng cao năng lực và tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất, phân phối và dịch vụ.
Xây dựng cơ chế tiếp nhận và phản hồi nhu cầu
Để doanh nghiệp tham gia thực chất, An Giang cần hình thành cơ chế tiếp nhận nhu cầu thường xuyên, thay vì chỉ thu thập ý kiến trước mỗi hội nghị hoặc chuyến công tác.
Cơ chế này có thể được tổ chức theo từng nhóm ngành hàng, lĩnh vực và thị trường. Các doanh nghiệp xuất khẩu cần được cung cấp thông tin về quy định thương mại, tiêu chuẩn kỹ thuật và nguy cơ áp dụng biện pháp phòng vệ. Doanh nghiệp sản xuất cần được kết nối với nguồn công nghệ, thiết bị và đối tác cung ứng. Doanh nghiệp du lịch cần có thông tin về thị trường khách, hãng lữ hành và các sản phẩm liên tuyến, liên quốc gia.
Từ dữ liệu nhu cầu của doanh nghiệp, tỉnh có thể xây dựng danh mục nhiệm vụ đề nghị Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ. Thay vì đề nghị chung chung về tìm kiếm đối tác, mỗi yêu cầu cần xác định rõ ngành hàng, thị trường, năng lực cung ứng, mục tiêu hợp tác và đầu mối chịu trách nhiệm theo dõi.
Cách làm này giúp cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có đủ căn cứ để tìm kiếm đối tác phù hợp, đồng thời nâng cao trách nhiệm phản hồi của các sở, ngành và doanh nghiệp khi có cơ hội được giới thiệu.
Thông tin thị trường có giá trị rất lớn về thời điểm. Nếu quá trình tiếp nhận, chuyển giao và phản hồi kéo dài, doanh nghiệp có thể bỏ lỡ đơn hàng, đối tác hoặc cơ hội đầu tư. Bởi vậy, ngoại giao kiến tạo đòi hỏi một cơ chế phối hợp nhanh, có đầu mối cụ thể và thời hạn xử lý rõ ràng.
Doanh nghiệp phải được tham gia đánh giá hiệu quả
Bên cạnh việc xác định nhu cầu, doanh nghiệp cần được tham gia đánh giá hiệu quả của từng chương trình ngoại giao kinh tế.
Việc đánh giá không nên dừng ở số lượng doanh nghiệp tham dự hay số cuộc gặp được tổ chức. Những chỉ số quan trọng hơn là số đối tác tiếp tục trao đổi sau chương trình, số hợp đồng hoặc đơn hàng được hình thành, số dự án chuyển sang giai đoạn nghiên cứu, số vấn đề về thị trường được tháo gỡ và giá trị thực tế mà doanh nghiệp nhận được.
Đối với các chương trình chưa đem lại kết quả, cần làm rõ nguyên nhân: đối tác được lựa chọn chưa phù hợp, doanh nghiệp chưa đáp ứng tiêu chuẩn, thông tin cung cấp chưa đầy đủ hay quá trình theo dõi sau kết nối chưa được duy trì.
Ý kiến đánh giá của doanh nghiệp là dữ liệu quan trọng để điều chỉnh cách thức tổ chức hoạt động ngoại giao kinh tế. Khi doanh nghiệp được phản hồi thẳng thắn về chất lượng đối tác, nội dung hỗ trợ và khả năng chuyển hóa kết nối thành hợp tác, cơ quan quản lý mới có thể nhận diện đúng những điểm nghẽn cần xử lý.
Một chương trình xúc tiến có quy mô lớn nhưng không tạo được giao dịch hoặc quan hệ hợp tác tiếp nối chưa thể được coi là thành công. Ngược lại, một hoạt động kết nối có phạm vi hẹp nhưng giải quyết được nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp, mở được thị trường hoặc hình thành được một dự án khả thi có thể mang lại giá trị thiết thực hơn.
Địa phương phải chuẩn bị năng lực tiếp nhận
Ngoại giao kiến tạo không phải là nhiệm vụ riêng của ngành ngoại giao. Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thể tìm kiếm cơ hội và kết nối đối tác, nhưng khả năng biến cơ hội thành dự án phụ thuộc phần lớn vào sự chuẩn bị của địa phương.
An Giang cần xây dựng danh mục dự án đầu tư có thông tin rõ ràng về quy hoạch, đất đai, hạ tầng, hình thức hợp tác, thủ tục pháp lý và đầu mối hỗ trợ. Những thông tin này cần được chuẩn hóa, cập nhật và thể hiện bằng các ngôn ngữ phù hợp với thị trường mục tiêu.
Cùng với đó, tỉnh cần xác định một số lĩnh vực ưu tiên, tránh xúc tiến dàn trải. Nông nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu, logistics, kinh tế cửa khẩu, du lịch và chuyển đổi xanh có thể là những lĩnh vực phù hợp với lợi thế địa phương, nhưng mỗi lĩnh vực cần có chương trình hành động và nhóm đối tác cụ thể.
Đặc biệt, các dự án thu hút đầu tư cần được đánh giá không chỉ trên quy mô vốn, mà còn ở khả năng chuyển giao công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên, tạo việc làm, hình thành liên kết với doanh nghiệp trong tỉnh và đóng góp cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Muốn tiếp nhận được dòng vốn và công nghệ có chất lượng, địa phương cũng phải cải thiện năng lực của đội ngũ cán bộ, chất lượng nguồn nhân lực và tốc độ xử lý thủ tục. Nhà đầu tư quốc tế không chỉ nhìn vào tiềm năng, mà còn đánh giá mức độ minh bạch, tính nhất quán của chính sách và khả năng thực hiện cam kết của chính quyền địa phương.
Lấy kết quả làm thước đo
Việc lấy người dân, doanh nghiệp và địa phương làm trung tâm cần được cụ thể hóa bằng một hệ thống chỉ số có thể đo lường.
Đối với An Giang, các chỉ số có thể bao gồm số nhu cầu của doanh nghiệp được tiếp nhận và xử lý; thời gian phản hồi thông tin thị trường; số cuộc kết nối được tiếp tục sau chương trình; số thị trường mới được tiếp cận; số dự án chuyển từ tìm hiểu sang thực hiện thủ tục; giá trị hợp đồng phát sinh và số công nghệ hoặc mô hình quản trị được chuyển giao.
Quan trọng hơn, kết quả ngoại giao kinh tế cần được nhìn nhận qua tác động đối với năng lực của doanh nghiệp và đời sống người dân. Một thị trường xuất khẩu mới chỉ có ý nghĩa bền vững khi góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, ổn định đầu ra và cải thiện thu nhập của người sản xuất. Một dự án đầu tư chỉ thực sự tạo động lực phát triển khi hình thành được việc làm, chuyển giao công nghệ và tạo cơ hội cho doanh nghiệp địa phương tham gia.
Khi doanh nghiệp được tham gia từ khâu xác định nhu cầu đến đánh giá kết quả, hoạt động ngoại giao kinh tế sẽ có thêm một cơ chế giám sát thực tiễn. Đây cũng là cách hạn chế biểu hiện hình thức, nâng cao trách nhiệm của các bên và bảo đảm nguồn lực dành cho xúc tiến, kết nối được sử dụng đúng trọng tâm.
Tư duy ngoại giao kiến tạo chỉ thực sự phát huy giá trị khi mỗi kết nối quốc tế được chuyển hóa thành một cơ hội phát triển có địa chỉ, có chủ thể thực hiện và có kết quả đo lường được. Với An Giang, chủ động chuẩn bị năng lực tiếp nhận nguồn lực bên ngoài chính là điều kiện để biến lợi thế địa kinh tế, nông nghiệp và giao thương biên giới thành động lực tăng trưởng bền vững.