Nghị quyết 57 mở đường cho đổi mới dựa trên khoa học, công nghệ
Chuyển đổi số trong cơ quan quản lý nhà nước không chỉ dừng ở việc đưa thủ tục hành chính lên môi trường trực tuyến. Xa hơn, đó là quá trình thay đổi phương thức tổ chức, điều hành và ra quyết định trên nền tảng dữ liệu, công nghệ và năng lực phân tích. Đây cũng là hướng đi đang được Bộ Công thương đặt ra trong Kế hoạch cải cách hành chính trọng tâm giai đoạn 2026-2030, được ban hành theo Quyết định số 1936/QĐ-BCT.
Tinh thần này phù hợp định hướng lớn được xác lập tại Nghị quyết số 57 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong lĩnh vực công thương, chuyển đổi số không chỉ diễn ra bên trong các cơ quan quản lý mà đang được mở rộng tới khu vực sản xuất, năng lượng và thương mại. Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt bởi công thương là ngành có phạm vi quản lý rộng, liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa, năng lượng, xuất nhập khẩu và thị trường trong nước.
Tại Diễn đàn “Sản xuất thông minh và công nghiệp hỗ trợ 2026” tổ chức ngày 6/8 tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam (VEC), Hà Nội, Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công Nguyễn Thị Lâm Giang cho biết, Bộ Công Thương đã xây dựng Chương trình hỗ trợ thúc đẩy sản xuất thông minh và chuyển đổi số trong doanh nghiệp thuộc ngành công thương.
Điểm đáng chú ý của chương trình là xác định sản xuất thông minh không phải một lĩnh vực công nghệ độc lập, mà là công cụ kết nối giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, qua đó giúp doanh nghiệp giải quyết đồng thời những bài toán về năng suất, chất lượng, chi phí, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Theo Chương trình được ban hành tại Quyết định số 2708/QĐ-BCT năm 2025, chuyển đổi số được triển khai trong cả ba lĩnh vực lớn gồm công nghiệp, năng lượng và thương mại, với tầm nhìn đến năm 2030 và tiếp tục mở rộng, nâng cao mức độ ứng dụng đến năm 2035.
Bốn nhóm nhiệm vụ trọng tâm được xác định gồm hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn và kiến trúc cho sản xuất thông minh; phát triển nguồn nhân lực và văn hóa số; xây dựng hệ sinh thái, tăng cường hợp tác quốc tế; đồng thời phát triển công nghệ, dữ liệu và hạ tầng số. Cách tiếp cận này cho thấy vai trò của Nhà nước đang được định hình theo hướng kiến tạo môi trường và hệ sinh thái, thay vì làm thay doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải là chủ thể của quá trình chuyển đổi, trong khi Nhà nước tập trung xây dựng chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn, kết nối nguồn lực, phát triển hạ tầng và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng. Đây cũng là điều kiện quan trọng để chuyển những chủ trương về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành năng lực sản xuất thực tế.
Trong nền kinh tế mà năng suất và năng lực cạnh tranh ngày càng quyết định vị thế doanh nghiệp, chuyển đổi số chỉ có ý nghĩa khi tạo ra giá trị cụ thể. Một nhà máy được kết nối dữ liệu, tự động hóa các khâu sản xuất, kiểm soát chất lượng bằng công nghệ và sử dụng dữ liệu để dự báo nhu cầu có thể giảm chi phí, rút ngắn thời gian sản xuất và phản ứng nhanh hơn với thị trường. Ở cấp độ cao hơn, dữ liệu từ các nhà máy, doanh nghiệp và thị trường khi được kết nối sẽ trở thành nguồn lực mới phục vụ quản lý và hoạch định chính sách.
Đây là lý do sản xuất thông minh đang được Bộ Công Thương đặt trong mối quan hệ hữu cơ với chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh các thị trường ngày càng đặt ra yêu cầu cao về tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc, chất lượng và phát triển bền vững, doanh nghiệp không thể chỉ cạnh tranh bằng giá và quy mô sản xuất. Năng lực quản trị dữ liệu, tự động hóa, tiết kiệm năng lượng, kiểm soát phát thải và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế sẽ ngày càng trở thành những yếu tố quyết định khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Do đó, chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện của bộ máy quản lý hay bộ phận công nghệ thông tin. Đây đang trở thành vấn đề liên quan trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Một nền hành chính hiệu quả cuối cùng phải tạo ra môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Đối với ngành công thương, điều này càng có ý nghĩa bởi mỗi thủ tục được rút ngắn, mỗi dữ liệu được kết nối, mỗi quy trình được số hóa và mỗi vướng mắc được tháo gỡ kịp thời đều có thể tác động trực tiếp đến quyết định đầu tư, sản xuất, lưu thông và tiêu dùng.
Bởi vậy, cải cách hành chính, chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản trị cần được nhìn nhận như những bộ phận thống nhất của một quá trình cải cách lớn hơn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Trong quá trình đó, hoàn thiện thể chế vẫn là nền tảng.
Bộ Công Thương đang tập trung xây dựng các dự án luật được giao chủ trì, đẩy nhanh ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, không để phát sinh khoảng trống pháp lý. Song song là tăng cường kiểm tra, giám sát, xác định rõ trách nhiệm của từng đơn vị và người đứng đầu. Nếu thể chế tạo hành lang, chuyển đổi số tạo hạ tầng và dữ liệu tạo nền tảng thông tin, thì nguồn nhân lực chính là yếu tố quyết định khả năng vận hành toàn bộ hệ thống. Đó cũng là lý do chương trình sản xuất thông minh đặt phát triển nguồn nhân lực và văn hóa số vào một trong bốn nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Công nghệ có thể được đầu tư nhanh, nhưng năng lực tổ chức, tư duy quản trị và khả năng sử dụng dữ liệu cần được tích lũy qua thời gian.
Trong giai đoạn mới, một nền công nghiệp hiện đại không chỉ cần những nhà máy hiện đại, mà cần một hệ thống quản lý hiện đại tương ứng. Từ cải cách hành chính đến sản xuất thông minh, từ dữ liệu đến trí tuệ nhân tạo, từ dịch vụ công trực tuyến đến quản trị tăng trưởng, chuyển đổi số đang mở ra khả năng hình thành phương thức quản lý mới trong ngành công thương.
Đó là phương thức quản lý minh bạch hơn nhờ dữ liệu, linh hoạt hơn nhờ công nghệ, trách nhiệm hơn nhờ các chỉ tiêu đo lường và gần người dân, doanh nghiệp hơn nhờ dịch vụ số. Khi những yếu tố này được kết nối đồng bộ, chuyển đổi số sẽ không còn là một chương trình riêng của ngành công thương, mà trở thành một phần quan trọng trong năng lực kiến tạo phát triển của Nhà nước, góp phần tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.