
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến ngày 20/8, có gần 2,6 triệu người học đại học, 139.276 học viên thạc sĩ và 63.867 nghiên cứu sinh. Quy mô người đang học thuộc 8 lĩnh vực STEM là 848.286 người, chiếm hơn 30% tổng quy mô người đang học đại học. Cơ cấu đào tạo có xu hướng dịch chuyển sang phát triển nhân lực các ngành công nghệ chiến lược, then chốt.
Năm 2026, kết quả tuyển sinh các ngành STEM tăng cả quy mô và điểm đầu vào. Số thí sinh xác nhận nhập học STEM đợt 1 năm 2026 hơn 211.110 thí sinh, chiếm 33,61% tổng số xác nhận nhập học.
Hơn 17 lượt ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược (khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn, điều khiển và tự động hóa…) có điểm chuẩn theo điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông từ 28/30 trở lên.

Ở bậc đào tạo sau đại học, năm 2025 cả nước đã tuyển 3.527 nghiên cứu sinh, trong đó số lượng theo học nhóm ngành thuộc 15 nhóm ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược là 687 người (chiếm 19,5%).
Tuy nhiên, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỷ trọng sau đại học và STEM còn thấp so với mục tiêu 2030. Quy mô đào tạo ở một số lĩnh vực chưa gắn chặt với nhu cầu nhân lực, việc làm và năng lực bảo đảm chất lượng.
Đội ngũ tiến sĩ, nhà khoa học đầu ngành và chuyên gia quốc tế phân bố không đều; năng lực nghiên cứu và thương mại hóa tập trung ở một số cơ sở; cơ chế định giá tài sản trí tuệ, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp khởi nguồn còn vướng mắc.
Cùng với đó, hạ tầng số, an toàn dữ liệu, năng lực AI và quy tắc liêm chính học thuật chưa đồng đều; còn nhiều hồ sơ, giấy tờ và báo cáo thủ công. Quốc tế hóa chưa có bộ chỉ số đầu ra thống nhất, hợp tác còn thiên về số lượng thỏa thuận, trong khi sản phẩm đào tạo, nghiên cứu, tín chỉ và dịch chuyển học thuật chưa được đo lường đầy đủ.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu đánh giá cao những kết quả đạt được, nhất là thể chế và tư duy về giáo dục đại học tiếp tục có bước đổi mới.
Tuy nhiên, theo Phó Thủ tướng, nếu đặt trong yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn tới, cần thẳng thắn nhìn nhận là vẫn còn nhiều điểm nghẽn, nút thắt.
Cụ thể, chất lượng và năng lực đào tạo, nghiên cứu khoa học giữa các cơ sở còn có sự chênh lệch; sứ mệnh, thế mạnh của nhiều trường chưa thật rõ. Một số cơ sở mở ngành, tăng quy mô nhanh hơn khả năng phát triển đội ngũ và các điều kiện bảo đảm chất lượng.
Cùng với đó, dự báo nhu cầu, điều chỉnh quy mô đào tạo là khâu chưa được quan tâm đúng mức; tự chủ đại học và bảo đảm chất lượng chưa thật sự đi vào chiều sâu; tiềm lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và dữ liệu chưa được chuyển hóa đầy đủ; năng lực phát triển, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa tương xứng với tiềm năng.
Qua đó, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu đề nghị tập trung thực hiện các nhóm nhiệm vụ chính: Chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế, chính sách sang tổ chức thực hiện và tạo ra kết quả cụ thể, thực chất; tập trung sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục đại học trên cơ sở chất lượng, nhu cầu phát triển của ngành, của vùng, của địa phương và khả năng liên kết, hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Phó Thủ tướng yêu cầu lấy chất lượng làm yêu cầu xuyên suốt, thực hiện quản trị chất lượng theo kết quả đầu ra. Bộ Giáo dục và Đào tạo chuyển mạnh sang quản lý chất lượng bằng tiêu chuẩn, bằng dữ liệu công khai và hậu kiểm.
Đồng thời, Giáo dục đại học phải đi trước một bước trong chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là tinh hoa và nhân tài cho đất nước. Đưa các trường đại học thực sự trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ.
Song song đó, Giáo dục đại học phải chuyển mạnh từ nghiên cứu chủ yếu để công bố sang nghiên cứu để tạo ra tri thức mới, công nghệ, sản phẩm có giá trị xã hội. Tạo đột phá trong quản trị dữ liệu, chuyển đổi số và chủ động thích ứng với trí tuệ nhân tạo…