Sau một thập kỷ triển khai, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật đã từng bước khẳng định vai trò là nền tảng trung tâm trong quản lý, tra cứu và tổ chức thực thi pháp luật.
Một trong những dấu ấn nổi bật của cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong suốt 10 năm qua là sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chất lượng dữ liệu. Từ một hệ thống ban đầu còn nhiều hạn chế, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật đã từng bước trở thành nguồn dữ liệu pháp lý chính thống, đầy đủ và thống nhất trong phạm vi cả nước, phục vụ hàng triệu lượt tra cứu mỗi năm. Toàn bộ dữ liệu được chuẩn hóa theo cùng một cấu trúc, bảo đảm tính chính xác, đồng bộ và thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng trong thực tiễn.
Theo Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp), cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật đã từng bước hình thành nền tảng dữ liệu pháp lý thống nhất của quốc gia, góp phần quan trọng vào tiến trình hiện đại hóa nền hành chính nhà nước và nâng cao hiệu quả quản lý bằng pháp luật.
Không chỉ dừng lại ở quy mô, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật cho thấy hiệu quả rõ nét trong tổ chức vận hành và duy trì kỷ cương cập nhật dữ liệu. Tỷ lệ văn bản được cập nhật đúng thời hạn của các bộ, ngành, địa phương hiện đạt hơn 90%, trong đó, nhiều đơn vị duy trì tỷ lệ gần như tuyệt đối. Việc rà soát, công bố danh mục văn bản hết hiệu lực hoặc ngưng hiệu lực được thực hiện thường xuyên, góp phần bảo đảm tính thống nhất, minh bạch của hệ thống pháp luật.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong khai thác và vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều bộ, ngành và địa phương như Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, Huế đã chủ động phát triển các công cụ tra cứu tích hợp, cho phép người dùng tìm kiếm văn bản của cả trung ương và địa phương trên cùng một nền tảng, qua đó nâng cao đáng kể hiệu quả tiếp cận thông tin pháp luật.
Đặc biệt, hệ thống dữ liệu pháp luật trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng đã đáp ứng kịp thời yêu cầu nghiên cứu, áp dụng pháp luật trong toàn quân, hình thành kho dữ liệu số tập trung, phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ huy.
Tuy nhiên, những hạn chế về hạ tầng, nhân lực và cơ chế phối hợp cho thấy cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật vẫn cần được đầu tư, củng cố và hoàn thiện đồng bộ hơn để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Sau sáp nhập hành chính, quy mô địa giới và khối lượng văn bản thay đổi nhanh, dẫn đến nhu cầu cấp thiết phải chuẩn hóa lại phạm vi hiệu lực, danh mục văn bản, đồng thời tích hợp sâu hơn với các nền tảng dữ liệu quốc gia khác.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc hiện đại hóa hạ tầng công nghệ được xác định là yêu cầu mang tính then chốt. Do đó, cần tăng cường ứng dụng các giải pháp công nghệ mới, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), nhằm hỗ trợ tự động hóa quy trình phân loại, kiểm tra và rà soát văn bản. Đây được xem là hướng đi chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả vận hành, giảm tải áp lực thủ công, nâng cao chất lượng khai thác và sử dụng dữ liệu phục vụ người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước.
Bên cạnh yếu tố công nghệ, vấn đề nguồn lực tiếp tục được xác định là điều kiện tiên quyết cho sự vận hành bền vững của hệ thống. Do đó, cần có cơ chế bảo đảm kinh phí ổn định, phù hợp cho công tác cập nhật, duy trì và phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Cùng với đó, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong quản trị dữ liệu pháp luật.
Đặc biệt, việc đẩy mạnh kết nối, liên thông giữa cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật với các hệ thống thông tin của Chính phủ, bộ, ngành và địa phương được xác định là hướng đi tất yếu, góp phần hình thành một hệ sinh thái dữ liệu pháp lý thống nhất, thông suốt và tin cậy.
Từ yêu cầu nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, lãnh đạo Bộ Tư pháp nhấn mạnh, cần triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu trong việc xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và tổ chức thực hiện nghiêm các quy định của Nghị định số 52 trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, đề nghị tiếp tục rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 52 nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho hoạt động của cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; đầu tư nâng cấp công nghệ thông tin, ứng dụng AI, nhằm khai thác một cách thuận lợi công năng của cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của người dân và doanh nghiệp.