
Bước vào năm học 2026-2027, hoạt động giáo dục nghệ thuật và phong trào nghệ thuật trong trường phổ thông được các cơ sở giáo dục đẩy mạnh triển khai theo định hướng nâng cao chất lượng toàn diện của ngành, góp phần cụ thể hóa Nghị quyết 80.
Học cách trân trọng văn hóa dân tộc
Lâu nay, việc nuôi dưỡng tình yêu nghệ thuật truyền thống phần lớn trông vào bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa, câu lạc bộ. Trong khi đó, trường học, nơi trẻ em dành nhiều thời gian nhất trong những năm tháng hình thành nhân cách, lại chưa dành cho nội dung này một chỗ đứng tương xứng. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu mới với ngành giáo dục, theo đó giáo dục nghệ thuật, giáo dục di sản phải được nhìn nhận như một cấu phần của giáo dục toàn diện.
Ở Huế, từ cuối năm 2019, ngành giáo dục và Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã ký kết chương trình hợp tác “Giáo dục di sản văn hóa Huế” trong trường học, các di tích dần trở thành những “lớp học mở”. Giai đoạn 2022-2025, chương trình đã đón 1.790 đoàn với 189.621 lượt học sinh, giáo viên; số học sinh tham gia chiếm khoảng 66% tổng số học sinh toàn thành phố. Tháng 3/2026, hai bên tiếp tục ký kết chương trình phối hợp cho giai đoạn 2026-2030.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, giáo dục di sản được triển khai theo hai hướng: đưa học sinh đến với di sản và đưa di sản vào lớp học. Báo cáo tại Hội nghị tổng kết chương trình giáo dục di sản văn hóa cho học sinh giai đoạn 2023-2026, tổ chức ngày 25/9 vừa qua, cho thấy sau 4 năm, chương trình đã triển khai 44 hoạt động, thu hút hơn 8.100 lượt học sinh; năm 2026 có khoảng 4.000 em tham gia qua trưng bày lưu động, giao lưu nghệ nhân và hành trình “Chuyến xe Di sản”. Phương pháp giáo dục từng bước chuyển từ truyền thụ lý thuyết sang trải nghiệm thực tế. Song song đó, nhiều trường chủ động mời nghệ nhân, nghệ sĩ về đứng lớp. Như tại Trường trung học phổ thông Bùi Thị Xuân (phường Bến Thành), từ năm học 2026-2027, triển khai thí điểm với 3 lớp khối 11, hơn 150 học sinh. Mỗi tuần, học sinh có một tiết học đờn ca tài tử, có kiểm tra, đánh giá định kỳ; người đứng lớp là các nghệ nhân, nghệ sĩ của Hội Sân khấu thành phố.
Tuy nhiên, từ vài “điểm sáng” đến 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa là một khoảng cách không nhỏ. Phần lớn mô hình hiện vẫn dựa vào quyết tâm của nhà trường, nguồn kinh phí thiếu ổn định. Câu lạc bộ đờn ca tài tử của Trường tiểu học Nguyễn Thái Học (phường Bến Thành), khởi động từ năm học 2020-2021, từng phải tạm ngưng một thời gian dài vì thiếu kinh phí. Đến học kỳ II năm học 2025-2026, lớp học mới sáng đèn trở lại.
Theo nhạc sĩ, nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Long, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam, cần phân biệt rõ hai mức độ mà Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra: “tiếp cận” và “tham gia”. Nếu học sinh chỉ dự một buổi biểu diễn hay nghe giới thiệu di sản thì mới dừng ở mức tiếp cận. Với nghệ thuật truyền thống, trải nghiệm mới là yếu tố quyết định.
Ông cũng lưu ý một nguy cơ cần tránh: biến nghệ thuật, di sản thành một môn học hay một nhiệm vụ mới, vô tình tạo thêm áp lực cho học sinh. Mục tiêu không phải để mọi học sinh trở thành nghệ sĩ, mà để các em có năng lực cảm thụ và biết trân trọng văn hóa dân tộc. Muốn vậy, nhà trường cần một kế hoạch thường xuyên, kết hợp tiết học chính khóa với câu lạc bộ, tham quan di tích, gặp gỡ nghệ nhân; đồng thời đánh giá hiệu quả không chỉ bằng số chương trình hay số học sinh tham dự, mà bằng việc các em có thật sự hiểu, cảm nhận và muốn tìm hiểu tiếp hay không. Có như vậy, giáo dục di sản mới trở thành một phần của đời sống học đường.
Tăng cường sự phối hợp
Nếu “tiếp cận” và “tham gia thường xuyên” là hai vế của mục tiêu, thì đội ngũ nghệ nhân, nghệ sĩ chính là điều kiện để hiện thực hóa cả hai. Theo nhạc sĩ Nguyễn Quang Long, đây là nguồn lực rất quý nhưng cần được tổ chức, điều phối hài hòa. Hướng tới mục tiêu đề ra, điều dư luận băn khoăn là đội ngũ nghệ nhân, nghệ sĩ có uy tín, chuyên môn cao hiện nay liệu có đủ cho cả hệ thống trường học? Thực tế ở một số trường tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, số tài tử có thể đồng hành lâu dài với nhà trường còn ít, trong khi truyền dạy loại hình này đòi hỏi sự kiên trì và thời gian. Ông cũng chỉ ra một điều ít được nhắc tới: Một nghệ nhân tài hoa chưa chắc đã có phương pháp phù hợp với học sinh nhỏ tuổi; ngược lại, giáo viên vững nghiệp vụ sư phạm chưa hẳn là người thực hành nghệ thuật chuyên sâu. Vì thế, ông đề xuất kết hợp hai lực lượng, thay vì để nghệ nhân thay thế hoàn toàn giáo viên. Các nhà nghiên cứu, đơn vị nghệ thuật, bảo tàng, di tích cũng có thể cùng tham gia, để người giỏi nghề và người giỏi dạy bổ trợ cho nhau.
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trần Phước Thuận, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, lưu ý: Khi tổ chức truyền dạy nghệ thuật truyền thống cho học sinh, cần khuyến khích hình thức kế thừa dân gian, đồng thời phải có sự hỗ trợ, định hướng của cơ quan chuyên môn để di sản được giữ gìn đúng cách. Nhiều loại hình nghệ thuật dân gian sống bằng lối truyền ngón, truyền giọng và sự ngẫu hứng của người chơi trên nền bài bản. Nếu đưa vào trường mà biến thành bài học thuộc lòng, chấm điểm như một môn kiến thức, di sản dễ bị “đóng khung”, mất đi chính hồn cốt làm nên giá trị. Ngược lại, nếu mỗi nơi dạy một kiểu, thiếu người am hiểu thẩm định, học sinh có thể tiếp nhận những điều sai lệch.
Để hiện thực hóa mục tiêu mà Nghị quyết số 80-NQ/TW đề ra đòi hỏi sự kiên trì, quyết tâm của cả hệ thống. Khi có cơ chế rõ ràng, sự chủ động của nhà trường và sự đồng hành, tâm huyết của đội ngũ nghệ nhân, nghệ sĩ, việc đưa di sản “bén rễ” trong trường học sẽ từng bước thành hiện thực, di sản tiếp tục được sống và phát huy giá trị trong một thế hệ mới.