Kết luận của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam

Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Kết luận số 83-KL/TW, ngày 8/8/2026 về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam.
vat-lieu-140826-1786686196858-1786686197225317704519-1786696589.jpg
Trong những năm qua, ngành công nghiệp vật liệu ở Việt Nam đã từng bước phát triển, cơ bản đáp ứng nhu cầu về nhiều loại vật tư, nguyên liệu đầu vào cho nền kinh tế - Ảnh: TTXVN

ngành luyện kim, hoá chất, polymer, cao su kỹ thuật, vật liệu xây dựng theo hướng hiện đại, tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, thân thiện môi trường, tăng nhanh tỉ trọng sản phẩm có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao; hạn chế tối đa xuất khẩu khoáng sản thô; hình thành các tổ hợp, trung tâm công nghiệp vật liệu quy mô lớn, gắn với vùng nguyên liệu, cảng biển, hệ thống logistics hiện đại và các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn. Chủ động điều tiết quy mô, cơ cấu các ngành xi măng, kính xây dựng, gạch, gốm, vật liệu hoàn thiện phù hợp với nhu cầu thị trường; khắc phục tình trạng dư thừa công suất, cạnh tranh không lành mạnh; thúc đẩy mạnh mẽ sử dụng vật liệu không nung, vật liệu tái chế, vật liệu thân thiện môi trường, vật liệu thay thế cát tự nhiên; phát triển kinh tế tuần hoàn trong sản xuất vật liệu xây dựng.

3.2. Huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực nhà nước, đồng thời thu hút mạnh mẽ nguồn lực khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài để từng bước tiếp cận, làm chủ công nghệ, chuỗi cung ứng đối với các vật liệu chiến lược, như vật liệu bán dẫn, vật liệu điện tử, đất hiếm, vật liệu pin và lưu trữ năng lượng, vật liệu từ tính, hợp kim đặc chủng, vật liệu phục vụ quốc phòng, an ninh, vật liệu cho năng lượng tái tạo, hàng không vũ trụ và các ngành công nghiệp công nghệ cao khác. Ban hành và tổ chức thực hiện Chiến lược quốc gia về đất hiếm giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo hướng phát triển đồng bộ, bền vững, tuần hoàn, an toàn; lấy chế biến sâu làm trọng tâm, không xuất khẩu thô; gắn khai thác, chế biến với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, lợi ích lâu dài, bền vững của đất nước.

3.3. Chủ động nghiên cứu, chuẩn bị từ sớm, từ xa đối với vật liệu tương lai, gắn với xu thế công nghệ mới trên thế giới, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Đẩy mạnh nghiên cứu, làm chủ khoa học, công nghệ nền tảng, theo dõi, dự báo chính xác xu hướng phát triển công nghệ, thị trường; từng bước hình thành chuỗi giá trị, chuyển từ quy mô nghiên cứu sang thương mại hoá đối với các nhóm vật liệu như vật liệu nano thế hệ mới, vật liệu hai chiều thế hệ mới, vật liệu lượng tử, vật liệu sinh học, vật liệu thông minh, vật liệu tự phục hồi, vật liệu siêu dẫn, composite thế hệ mới, các vật liệu hấp thụ, lưu trữ, chuyển hoá năng lượng thế hệ mới và các vật liệu tiên tiến khác. Quản lý, kiểm soát đặc biệt việc khai thác, chế biến một số vật liệu đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng, an ninh, an ninh tiền tệ như khoáng sản phóng xạ, vàng...

Xác định rõ tiềm năng, lợi thế so sánh, khả năng tự chủ, nguồn lực, cơ hội thị trường để lựa chọn các nhóm vật liệu ưu tiên, bảo đảm phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp quốc gia, chiến lược quốc phòng, an ninh và xu hướng chuyển dịch chuỗi giá trị toàn cầu. Giai đoạn đến năm 2030, tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách, ưu tiên nguồn lực phát triển một số nhóm vật liệu chiến lược, trọng điểm, trước hết là: Vật liệu bán dẫn; vật liệu đất hiếm; vật liệu cho pin và lưu trữ năng lượng; vật liệu mới; vật liệu đặc chủng, lưỡng dụng phục vụ công nghệ cao, công nghiệp quốc phòng, an ninh, năng lượng tái tạo và chuyển đổi số.

4. Xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chủ yếu thúc đẩy phát triển công nghiệp vật liệu; các viện nghiên cứu, trường đại học là nền tảng cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng; doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp tư nhân, là trung tâm, chủ thể chính trong thương mại hoá công nghệ, tổ chức sản xuất, tham gia chuỗi cung ứng; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là kênh quan trọng kết nối, chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường, tham gia mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong ngành công nghiệp vật liệu theo mô hình "Nhà nước kiến tạo-doanh nghiệp trung tâm-viện, trường nền tảng-địa phương là không gian thực thi". Trong đó, Nhà nước tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế, ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu chiến lược, các phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm thử nghiệm, kiểm định, đo lường, đánh giá chất lượng vật liệu đạt chuẩn khu vực và quốc tế; xây dựng các cơ sở nghiên cứu dùng chung phục vụ cộng đồng doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học. Doanh nghiệp là trung tâm đổi mới sáng tạo, chủ thể đặt hàng, tiếp nhận, thương mại hoá công nghệ, nhất là công nghệ lõi. Cơ sở đào tạo, nghiên cứu đảm nhiệm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyển giao tri thức, công nghệ; gắn kết chặt chẽ với các viện nghiên cứu, trường đại học, đội ngũ chuyên gia trong và ngoài nước nhằm tạo đột phá về năng lực nghiên cứu, sản xuất vật liệu mới. Địa phương tổ chức thực thi phù hợp với quy hoạch, lợi thế và định hướng phát triển chung. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ hình thành và phát triển các doanh nghiệp vật liệu lớn, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị, đi đầu trong đổi mới công nghệ, quản trị hiện đại, tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp thực hiện một số nhiệm vụ trọng điểm về phát triển công nghiệp vật liệu chiến lược, vật liệu mới.

Tập trung xây dựng mạng lưới trung tâm nghiên cứu, vườn ươm công nghệ; phát huy vai trò quỹ đầu tư mạo hiểm trong phát triển vật liệu mới, vật liệu bán dẫn, đất hiếm, vật liệu pin và năng lượng mới, vật liệu chiến lược và vật liệu tương lai; nâng cao năng lực thiết kế, mô phỏng, thử nghiệm, chế tạo, làm chủ công nghệ vật liệu tiên tiến. Ứng dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán hiệu năng cao và các công nghệ số mới trong nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, quản trị, thương mại hoá sản phẩm vật liệu. Thiết lập bản đồ số tài nguyên khoáng sản, chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng vật liệu chiến lược.

Triển khai chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công nghiệp vật liệu; chú trọng phát triển đội ngũ chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học trình độ cao, kỹ sư lành nghề trong các lĩnh vực vật liệu chiến lược, vật liệu tương lai, công nghệ chế biến sâu, chuyển đổi số trong ngành vật liệu. Khẩn trương xây dựng và triển khai cơ chế, chính sách đặc biệt thu hút, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế và các tập đoàn công nghệ toàn cầu, thiết lập các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo đột phá nhanh trong phân khúc vật liệu chiến lược, vật liệu tương lai, tận dụng tối đa dòng vốn và dịch chuyển công nghệ toàn cầu; khuyến khích liên kết đào tạo với các cơ sở khoa học, công nghệ, giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới.

5. Có cơ chế thúc đẩy việc chuyển đổi, nâng cấp toàn diện các cơ sở sản xuất vật liệu theo hướng phát triển xanh, bền vững, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên và năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính. Xây dựng và triển khai hiệu quả các cơ chế khuyến khích nghiên cứu, sản xuất và sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, vật liệu thay thế, vật liệu không nung, vật liệu tái chế từ chất thải xây dựng, tro xỉ, phế thải công nghiệp. Quản lý, giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, nhất là khoáng sản chiến lược; loại bỏ, chấm dứt hoạt động các cơ sở sử dụng công nghệ lạc hậu, gây lãng phí, thất thoát tài nguyên, ô nhiễm môi trường; xác lập nghĩa vụ bắt buộc về hoàn nguyên, phục hồi môi trường, phục hồi hệ sinh thái sau khai thác. Tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra; ứng dụng công nghệ số, dữ liệu vệ tinh trong giám sát sản lượng khai thác, chất lượng môi trường. Xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật về khoáng sản, môi trường, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên.

6. Đẩy mạnh hợp tác, hội nhập quốc tế; có cơ chế, chính sách ưu đãi đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh để thu hút các dự án lớn, công nghệ cao, các tập đoàn công nghệ, doanh nghiệp vật liệu hàng đầu thế giới đầu tư, đặt trụ sở, trung tâm nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam; gắn việc áp dụng các chính sách ưu đãi với yêu cầu tạo liên kết với các doanh nghiệp trong nước, đào tạo, chuyển giao công nghệ, tăng tỉ lệ nội địa hoá, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Chủ động lựa chọn đối tác chiến lược, đẩy mạnh hợp tác song phương, đa phương trong các lĩnh vực then chốt như vật liệu cho trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, lượng tử, quốc phòng, an ninh, năng lượng mới, năng lượng tái tạo.

Chủ động tham gia xây dựng, hài hoà tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế; xây dựng hệ thống kỹ thuật đáp ứng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chất lượng, an toàn, vật liệu xanh, phát thải carbon và kinh tế tuần hoàn; hoàn thiện hàng rào kỹ thuật, sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại phù hợp để bảo vệ thị trường, thúc đẩy tiêu dùng vật liệu xanh sản xuất trong nước và chống gian lận thương mại. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, mua, sáp nhập doanh nghiệp, tiếp cận nguồn tài nguyên, công nghệ, thị trường mới.

7. Tổ chức thực hiện

- Đảng uỷ Quốc hội phối hợp với Đảng uỷ Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển công nghiệp vật liệu; nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện pháp luật về công nghiệp vật liệu và về quản lý, phát triển vật liệu xây dựng; tăng cường giám sát tổ chức thực hiện, bảo đảm công nghiệp vật liệu phát triển đúng định hướng, đồng bộ, hiệu quả, gắn với yêu cầu tự chủ, hiện đại hoá và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

- Đảng uỷ Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Chương trình hành động và tổ chức triển khai thực hiện Kết luận; chỉ đạo xây dựng và ban hành Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trong quý IV/2026; chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương rà soát, hoàn thiện hệ thống quy hoạch, đề xuất xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nêu tại Kết luận.

- Các tỉnh uỷ, thành uỷ, các đảng uỷ trực thuộc Trung ương, các ban đảng Trung ương tổ chức nghiên cứu, quán triệt, xây dựng chương trình, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt Kết luận.

- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận.

- Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách; tuyên truyền, vận động các tầng lớp Nhân dân tích cực thực hiện Kết luận.

- Ban Chính sách, chiến lược Trung ương chủ trì, phối hợp với Đảng uỷ Chính phủ và các cơ quan liên quan thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết việc thực hiện Kết luận, báo cáo Bộ Chính trị.