Nghị định mới quy định cụ thể mức tiền thưởng thi đua, khen thưởng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 368/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng. Nghị định quy định cụ thể nguyên tắc xét danh hiệu thi đua, hình thức và tiêu chuẩn khen thưởng, thẩm quyền, hồ sơ, thủ tục, quỹ thi đua, khen thưởng và mức tiền thưởng.

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký ban hành Nghị định số 368/2026/NĐ-CP. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/10/2026.

Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định về nguyên tắc xét danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng. Theo đó, việc khen thưởng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được; không nhất thiết phải có hình thức khen thưởng mức thấp mới được xét khen thưởng ở mức cao hơn.

Cấp có thẩm quyền thực hiện khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng đối với những trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục và hồ sơ theo quy định. Kết quả khen thưởng công trạng chỉ được sử dụng làm căn cứ để xét thành tích khen thưởng công trạng cho lần tiếp theo.

thi-dua-khen-thuong-1790675592.png
Ảnh minh hoạ.

Nghị định cũng quy định chưa khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng đối với cá nhân, tập thể trong thời gian cơ quan có thẩm quyền đang xem xét thi hành kỷ luật hoặc đang điều tra, thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Quy định này cũng áp dụng đối với trường hợp có đơn thư khiếu nại, tố cáo hoặc vấn đề tham nhũng, tiêu cực được báo chí nêu đang được xác minh, làm rõ.

Đáng chú ý, thời gian nghỉ thai sản của cá nhân theo quy định của pháp luật được tính là thời gian công tác để xét tặng danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng.

Khi có nhiều cá nhân, tập thể cùng đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn, việc xét khen thưởng ưu tiên lựa chọn cá nhân nữ hoặc tập thể có tỷ lệ nữ từ 70% trở lên. Đối với nữ lãnh đạo, quản lý, thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng quá trình cống hiến được giảm 1/3 so với quy định chung. Trường hợp nữ lãnh đạo, quản lý thuộc đối tượng được quy định tuổi nghỉ hưu cao hơn theo pháp luật thì thời gian xét khen thưởng quá trình cống hiến thực hiện theo quy định chung.

Không quá 10% cá nhân đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở

Nghị định số 368/2026/NĐ-CP quy định tỷ lệ xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” theo các điểm b, c và d khoản 1 Điều 23 Luật Thi đua, khen thưởng không quá 10% tổng số cá nhân đạt tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến”. Quy định này không bao gồm cá nhân được xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” theo điểm a khoản 1 Điều 23 Luật Thi đua, khen thưởng.

Theo Luật Thi đua, khen thưởng, danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” được tặng cho cá nhân đạt một trong các tiêu chuẩn: được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; đạt danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến” và có sáng kiến được cơ sở công nhận; có nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đánh giá hiệu quả theo quy định; hoặc mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu được đơn vị công nhận.

Nghị định cũng quy định cụ thể tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu “Cờ thi đua của Chính phủ”. Theo đó, tập thể phải đáp ứng tiêu chuẩn theo Luật Thi đua, khen thưởng, đồng thời được cụm, khối thi đua do bộ, ban, ngành, tỉnh tổ chức đánh giá, so sánh, bình xét và suy tôn là tập thể dẫn đầu. Số lượng tập thể được xét, đề nghị tặng danh hiệu này không quá 20% tổng số tập thể dẫn đầu cụm, khối thi đua do bộ, ban, ngành, tỉnh tổ chức và đạt tiêu chuẩn tặng cờ thi đua của bộ, ban, ngành, tỉnh.

Đối với tập thể được xét tặng “Cờ thi đua của Chính phủ” theo khoản 2 Điều 25 Luật Thi đua, khen thưởng, tập thể phải có thành tích xuất sắc trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh và thực hiện tốt nhiệm vụ thi đua, khen thưởng. Các tập thể này được cụm, khối thi đua do Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương tổ chức đánh giá, bình xét và suy tôn.

Đối với bộ, ban, ngành, danh hiệu “Cờ thi đua của Chính phủ” được xét tặng cho tập thể có nhiều thành tích tiêu biểu, xuất sắc trong tham mưu xây dựng thể chế, hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; đổi mới nội dung, hình thức tổ chức phong trào thi đua, các cuộc vận động để huy động sự tham gia tích cực của đoàn viên, hội viên.

Đối với địa phương, tập thể được xét tặng phải đạt nhiều thành tích nổi trội trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, trật tự xã hội; có mô hình mới, cách làm sáng tạo, đạt hiệu quả cao trong phạm vi cả nước.
Bộ, ban, ngành, tỉnh có trách nhiệm xét chọn, lập danh sách đề nghị khen thưởng. Bộ Nội vụ tiếp nhận, tổng hợp, thẩm định hồ sơ trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Nghị định cũng quy định tiêu chuẩn cụ thể để xét tặng, truy tặng nhiều loại huân chương như “Huân chương Sao vàng”, “Huân chương Hồ Chí Minh”, “Huân chương Độc lập”, “Huân chương Quân công”, “Huân chương Lao động”, “Huân chương Bảo vệ Tổ quốc” theo thành tích và quá trình cống hiến, cùng các quy định về hồ sơ, thủ tục khen thưởng.

Quy định cụ thể mức tiền thưởng

Nghị định số 368/2026/NĐ-CP quy định mức tiền thưởng đối với các danh hiệu thi đua theo hệ số của mức lương cơ sở.

Đối với cá nhân, danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” được thưởng 4,5 lần mức lương cơ sở; “Chiến sĩ thi đua bộ, ban, ngành, tỉnh” được thưởng 3 lần; “Chiến sĩ thi đua cơ sở” được thưởng 1 lần; “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” được thưởng 0,3 lần mức lương cơ sở.

Đối với tập thể, danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc”, “Đơn vị quyết thắng” được thưởng 1,5 lần mức lương cơ sở; “Tập thể Lao động tiên tiến”, “Đơn vị tiên tiến” được thưởng 0,8 lần. Danh hiệu xã, phường, đặc khu tiêu biểu được thưởng 2 lần, còn danh hiệu thôn, tổ dân phố văn hóa được thưởng 1,5 lần mức lương cơ sở.

Danh hiệu “Cờ thi đua của Chính phủ” được thưởng 12 lần mức lương cơ sở; cờ thi đua của bộ, ban, ngành, tỉnh được thưởng 8 lần. Cờ thi đua của quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, tổng cục và tương đương thuộc Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ; cờ thi đua của Đại học Quốc gia được thưởng 6 lần mức lương cơ sở.

Đối với huân chương, cá nhân được tặng hoặc truy tặng “Huân chương Sao vàng” được thưởng 46 lần mức lương cơ sở; “Huân chương Hồ Chí Minh” 30,5 lần; “Huân chương Độc lập” hạng Nhất và “Huân chương Quân công” hạng Nhất 15 lần.

“Huân chương Độc lập” hạng Nhì và “Huân chương Quân công” hạng Nhì được thưởng 12,5 lần; hạng Ba của hai loại huân chương này được thưởng 10,5 lần mức lương cơ sở.

“Huân chương Lao động” hạng Nhất, “Huân chương Chiến công” hạng Nhất và “Huân chương Bảo vệ Tổ quốc” hạng Nhất được thưởng 9 lần mức lương cơ sở. Mức thưởng đối với các loại huân chương hạng Nhì tương ứng và “Huân chương Đại đoàn kết dân tộc” là 7,5 lần.

Đối với “Huân chương Lao động” hạng Ba, “Huân chương Chiến công” hạng Ba, “Huân chương Bảo vệ Tổ quốc” hạng Ba, “Huân chương Dũng cảm” và “Huân chương Hữu nghị”, mức thưởng là 4,5 lần mức lương cơ sở.

Tập thể được tặng huân chương được thưởng mức tiền gấp hai lần mức thưởng tương ứng đối với cá nhân.
Đối với huy chương, cá nhân được tặng hoặc truy tặng huy chương theo quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật Thi đua, khen thưởng được tặng bằng, khung, hộp đựng khung bằng, huy chương, hộp đựng huy chương và được thưởng 1,5 lần mức lương cơ sở.

Nghị định số 368/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, tạo cơ sở cụ thể cho việc xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng và thực hiện chế độ tiền thưởng theo Luật Thi đua, khen thưởng.