Quy định mới về đấu thầu theo các Hiệp định CPTPP, EVFTA, UKVFTA

Nghị định số 374/2026/NĐ-CP quy định cụ thể việc lựa chọn nhà thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của các Hiệp định CPTPP, EVFTA và UKVFTA, trong đó quy định điều kiện áp dụng, tư cách hợp lệ của nhà thầu, thời gian tổ chức lựa chọn và quy trình đấu thầu.

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Nghị định số 374/2026/NĐ-CP ngày 30/9/2026 hướng dẫn thực hiện đấu thầu theo Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len (UKVFTA).

Nghị định quy định hoạt động lựa chọn nhà thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của ba hiệp định đối với các gói thầu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.

Cụ thể, gói thầu phải có giá bằng hoặc cao hơn ngưỡng giá quy định tại các Phụ lục I, II và III kèm theo Nghị định; thuộc dự án, dự toán của cơ quan mua sắm được liệt kê tại các phụ lục này; cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc kết hợp hàng hóa và dịch vụ nằm trong phạm vi được quy định. Đồng thời, gói thầu không thuộc các trường hợp loại trừ theo Nghị định và các Phụ lục I, II, III.

quy-dinh-moi-ve-dau-thau-1790953394.png
Ảnh minh hoạ.

Nghị định quy định nhà thầu là tổ chức được xác định có tư cách hợp lệ khi không đang trong thời gian bị cấm tham dự thầu theo quyết định của cơ quan nhà nước hoặc cơ quan có thẩm quyền ở bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào; đồng thời đáp ứng các điều kiện quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g và h khoản 1 Điều 5 của Luật Đấu thầu.

Đối với nhà thầu là hộ kinh doanh, ngoài điều kiện không bị cấm tham dự thầu tại bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào, phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật Đấu thầu.

Nhà thầu là cá nhân cũng phải bảo đảm không trong thời gian bị cấm tham dự thầu theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền ở bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 5 của Luật Đấu thầu.

Các nhà thầu đáp ứng điều kiện về tư cách hợp lệ được tham dự thầu với tư cách độc lập hoặc liên danh.

Đối với đấu thầu rộng rãi có lựa chọn danh sách ngắn, thời gian chuẩn bị hồ sơ quan tâm hoặc hồ sơ dự sơ tuyển tối thiểu là 25 ngày, tính từ ngày đăng tải thông báo mời quan tâm hoặc thông báo mời sơ tuyển đến thời điểm đóng thầu.

Trong trường hợp khẩn cấp và cơ quan mua sắm xác định thời gian 25 ngày không khả thi, thời gian chuẩn bị hồ sơ có thể được rút xuống tối thiểu 10 ngày.

Đối với hồ sơ dự thầu, thời gian chuẩn bị tối thiểu là 30 ngày, tính từ ngày đăng tải thông báo mời thầu đối với đấu thầu rộng rãi không lựa chọn danh sách ngắn hoặc từ ngày gửi thư mời thầu đến các nhà thầu có tên trong danh sách ngắn đối với đấu thầu rộng rãi có lựa chọn danh sách ngắn.

Trường hợp cơ quan mua sắm tiếp nhận hồ sơ dự thầu qua mạng, thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu tối thiểu là 25 ngày.

Nghị định cũng cho phép rút ngắn thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu xuống tối thiểu 10 ngày trong một số trường hợp. Trong đó có trường hợp khẩn cấp mà cơ quan mua sắm xác định thời gian chuẩn bị theo quy định chung không khả thi; gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường, có đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa, tương đương về chất lượng và có giá gói thầu không quá 10 tỷ đồng; hoặc gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản có giá gói thầu không quá 10 tỷ đồng.

Đối với các gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh, chủ đầu tư áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu.

Trường hợp tổ chức đấu thầu nội khối, việc lựa chọn nhà thầu được thực hiện qua mạng trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia theo quy trình quy định tại Nghị định số 374/2026/NĐ-CP, Nghị định số 214/2025/NĐ-CP và lộ trình quy định tại khoản 4 Điều 18 của Nghị định số 374/2026/NĐ-CP, trừ trường hợp được quy định tại khoản 11 Điều 98 của Nghị định số 214/2025/NĐ-CP.

Đối với đấu thầu quốc tế, việc lựa chọn nhà thầu được thực hiện không qua mạng theo quy trình quy định tại Nghị định số 374/2026/NĐ-CP và Nghị định số 214/2025/NĐ-CP.

Nghị định số 374/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 14/11/2026.