“Phụ nữ ta chẳng tầm thường,
Đánh Đông dẹp Bắc làm gương để đời” (1).
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng… Phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng” (2).

Lịch sử dân tộc ta có biết bao tấm gương những người phụ nữ anh hùng, bắt đầu từ câu chuyện Con Rồng cháu Tiên nói về nguồn gốc người Việt. Được sinh ra từ bọc trăm trứng của Mẹ Âu Cơ – người Mẹ hiền của toàn dân tộc, nên người Việt Nam ta gọi nhau bằng 2 tiếng “đồng bào”, cùng nhau gìn giữ truyền thống “yêu nước, thương nòi”, “thương người như thể thương thân”, “uống nước nhớ nguồn” của tổ tiên để lại, thật đúng với tinh thần “trăm con một bọc, cả nước một lòng, quy về một Tổ” (3).
Năm 40 sau công nguyên, lũ giặc Đông Hán “hung hăng quấy nhiễu, cuồng bạo tàn ác, khiến cho trời đất và người đều căm phẫn” (4), Hai Bà Trưng “vốn là cháu gái của dòng dõi Hùng Vương” (5) đã phất cờ khởi nghĩa “để bảo vệ đất nước, cứu độ cho dân” (6).
Hơn 200 năm sau, Bà Triệu Thị Trinh dấy binh khởi nghĩa chống lại giặc Đông Ngô. Bà đã để lại câu nói bất hủ cho muôn đời: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!”.
Hai cuộc khởi nghĩa của các nữ anh hùng trong buổi bình minh giữ nước đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, mở đường cho các cuộc đấu tranh giành lại độc lập của người Việt trong suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc. Cảm phục khí tiết của các nữ anh hùng, Bác Hồ đã viết: “Như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết cách mệnh. Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào mà ngồi yên được!” (7). Người kêu gọi: “Chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại!” (8).
Theo lời kêu gọi của Người, phụ nữ mau mau đoàn kết lại để giành lấy những quyền lợi chính đáng cho mình, bởi “trong xã hội và trong gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng chút quyền gì” (9). Người cảm thán rằng: “Hỡi chị em! Vì sao chị em lại phải chịu sự áp bức bất công này?” (10).
Ngay từ buổi đầu ra đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã rất quan tâm đến việc giành quyền lợi cho phụ nữ. Điều đó có lẽ xuất phát từ chính gia đình của Người. Có một câu chuyện cảm động về tấm lòng của Bác đối với phụ nữ Việt Nam đã được ghi lại.
Trong lần đi thăm hợp tác xã trồng cây giỏi ở huyện Quảng Oai (Hà Tây cũ), Bác rất mừng khi thấy các cháu bé gái được mặc đẹp, được đeo khăn đỏ đi học, cháu nào cũng vui tươi phấn khởi. Bỗng nhiên, giọng Bác trầm hẳn xuống, Người nói: “Lúc này Bác rất nhớ mẹ của Bác. Mẹ Bác rất thông minh, lại là con gái ông đồ nho. Thế mà mẹ Bác không được đến lớp, đến trường đâu các chú ạ. Cũng như phụ nữ ngày xưa, từ nhỏ mẹ Bác đã phải lo việc nhà” (11).
Tấm lòng của Bác với thân mẫu Hoàng Thị Loan cũng là nỗi lòng của Bác đối với thân phận người phụ nữ trong xã hội, cũng là nỗi lòng của một người chiến sĩ cộng sản kiên trung suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng loài người. Người từng bày tỏ: “Lenin dạy chúng ta: Phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ thì phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ” (12).
Trong xã hội cũ, người phụ nữ vốn phải chịu nhiều bất công và đau khổ, nhưng khi Tổ quốc lâm nguy, sự bất công và khổ đau mà người phụ nữ phải chịu lại tăng lên gấp bội. Giữa thế kỷ 19, thực dân Pháp xâm lược nước ta. Chúng không chỉ giày xéo non sông ta, bức hại đồng bào ta, cướp bóc tài nguyên của đất nước ta, mà chúng ngang nhiên cướp đi nhân phẩm, danh dự của những người phụ nữ, thậm chí cả những em bé gái. Phụ nữ trở thành công cụ thoả mãn thú tính của những kẻ xâm lược, đau khổ không thể nào nói hết. Nói về tội ác của thực dân Pháp với phụ nữ Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi. Bạo lực đó, đem ra đối xử với trẻ em và phụ nữ, lại càng bỉ ổi hơn nữa… hết sức bỉ ổi với người đàn bà bằng xương bằng thịt và xúc phạm một cách vô liêm sỉ tới phong hóa, trinh tiết và đời sống của họ” (13).
Đứng trước nỗi đau chung của dân tộc và nỗi đau riêng của phụ nữ, người phụ nữ Việt Nam không thể cam chịu mãi, mà phải vùng đứng dậy giành lấy quyền làm người của mình. Đó là điều tất yếu của lịch sử.
Trong Đường Kách Mệnh năm 1927, Nguyễn Ái Quốc thêm một lần nữa khẳng định: “Ông Các Mác nói rằng: "Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi… Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia... An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công...” (14).
Đứng trước yêu cầu của thời đại, ngày 3/2/1930, một sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam đã diễn ra: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, chính thức chèo lái con thuyền Cách mạng. Một thời gian ngắn sau khi Đảng thành lập, Nguyễn Ái Quốc đã viết “Lời kêu gọi” gửi đến các anh chị em bị áp bức và gửi đến các đồng chí. Điều thứ 10 trong lời kêu gọi của Người là “Thực hiện nam nữ bình quyền” (15). Ngày 8/3/1952, Người đã nhắc lại về cuộc đấu tranh quan trọng này: “Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó. Vì trọng trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn nǎm để lại. Vì nó ǎn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội… Phải cách mạng từng người, từng gia đình, đến toàn dân” (16).
Dưới sự dẫn dắt của Đảng và Bác Hồ, phụ nữ Việt Nam đã từng bước vượt qua mọi định kiến, vượt lên trên mọi sự bất công của xã hội, hăng hái góp sức vào cuộc đấu tranh đánh Pháp, đuổi Nhật để giành lại độc lập, tự do cho nước nhà. Ngày 28/08/1941, sự hi sinh anh dũng của nữ đảng viên cộng sản kiên trung Nguyễn Thị Minh Khai càng khẳng định tinh thần “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của nhân dân ta. Trong thời gian bị giam trong tù, chị đã dùng máu của mình viết lên cánh cửa ở xà lim những dòng thơ đầy khí thế cách mạng:
“…Dù đánh, dù treo, càng cương quyết,
Dù kìm, dù kẹp, chẳng sai lời.
Hi sinh phấn đấu vì nhiệm vụ,
Triệt để thực hành chết mới thôi”.
Chính những người phụ nữ Việt Nam đã góp một phần quan trọng vào sự thành công của Cách mạng Tháng Tám và vào sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà. Trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, công dân Việt Nam, “không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái” (17), thì đều có hai quyền ứng cử và bầu cử. Ngày 6/1/1946, toàn thể nhân dân ta, trong đó có phụ nữ Việt Nam vui sướng thực hiện quyền dân chủ của mình.
Nhận thấy vai trò của phụ nữ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đầu xuân 1946, Bác Hồ đã gửi thư cổ vũ động viên tinh thần cho phụ nữ ta:
…Phụ nữ đồng bào
Phải gắng làm sao
Gây "Đời sống mới"
Việc thành là bởi
Chúng ta siêng mần
Vậy nên chữ cần
Ta thực hành trước
Lại phải kiệm ước
Bỏ thói xa hoa
Tiền của dư ra
Đem làm việc nghĩa
Thấy của bất nghĩa
Ta chớ tham nhàn
Thế tức là liêm
Đã liêm thì khiết
Giữ mình làm việc
Quảng đại công bình
Vì nước quên mình
Thế tức là chính
Cần kiệm liêm chính
Giữ được vẹn mười
Tức là những người
Sống "Đời sống mới" (18).
Ngày 20/10/1946, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam được thành lập, tập hợp nhiều đoàn thể phụ nữ. Kể từ đây, hội đã tích cực lãnh đạo các phong trào đấu tranh của phụ nữ trong cả nước. Những người phụ nữ Việt Nam vừa hăng hái tham gia kháng chiến kiến quốc, vừa tích cực thực hiện cuộc đấu tranh “Nam nữ bình quyền” trong toàn xã hội. Quả thực, trong suốt 30 năm kháng chiến trường kỳ và trong các cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp vô cùng to lớn cho nước nhà.
Trước tiên, phải kể đến công lao của những bà mẹ Việt Nam anh hùng trên khắp đất nước. Người phụ nữ vốn được trao một thiên chức rất thiêng liêng mà người nam giới không thể nào làm thay được, đó là thiên chức làm mẹ. Bất cứ ai, dù là trai hay gái, dù là bậc vĩ nhân hay người bình thường cũng đều sinh ra từ bụng mẹ. Mang nặng đẻ đau rồi hết lòng dạy dỗ, đối với mỗi người mẹ, người con chính là tài sản quý giá nhất.
Nhưng khi Tổ quốc cần, các mẹ đã chọn nén lại tình riêng để tiễn con lên đường ra trận. Có những người mẹ mất đi người con duy nhất, có mẹ mất 2 con, 3 con, thậm chí có người mẹ mất tới 9 người con trai như mẹ VNAH Nguyễn Thị Thứ. Nhưng các mẹ vẫn động viên chồng, con, cháu ra chiến trường; các mẹ vẫn nuôi giấu cán bộ chiến sĩ và một lòng bảo vệ sự nghiệp cách mạng bởi các mẹ hiểu rằng: Nước mất thì nhà tan, cho con đi có thể mất con, nhưng không cho con đi thì mất nước.
Ghi nhớ công lao của các bà mẹ khắp 2 miền Nam - Bắc, Bác Hồ viết: “Gia đình không gì quý hơn con. Loài người không gì quý bằng Tổ quốc. Những gia đình có bao nhiêu con đều hiến cả cho Tổ quốc là những gia đình gương mẫu vẻ vang. Dân tộc có những gia đình như vậy thì nhất định tự do, độc lập” (19).
Tiếp theo những tấm gương của các mẹ VNAH, phải kể đến công lao của những nữ anh hùng trong thời đại Hồ Chí Minh đã trực tiếp xông pha trên nhiều mặt trận. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, “trong phong trào thi đua diệt giặc lập công, tăng gia sản xuất, phục vụ chiến dịch, bình dân học vụ, nữ du kích, nữ anh hùng, nữ chiến sĩ, và nữ thanh niên xung phong đã có nhiều thành tích vẻ vang” (20).
Trong kháng chiến chống Mỹ, “miền Nam anh hùng có đội quân đấu tranh chính trị gồm hàng vạn chiến sĩ toàn là phụ nữ. Họ rất mưu trí và dũng cảm làm cho địch phải khiếp sợ và gọi họ là “đội quân tóc dài”. Phó Tổng tư lệnh Quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta” (21).
Vì hoà bình, độc lập cho Tổ quốc thân yêu, vì miền Nam ruột thịt, các mẹ, các chị đã dũng cảm làm chiến sĩ phá bom, làm cô gái tải đạn, làm chiến sĩ lái xe, làm cô gái mở đường, làm cọc tiêu sống, làm y tá, bác sĩ quân y, làm chị nuôi, làm chiến sĩ bắn máy bay, làm chiến sĩ tình báo, làm chiến sĩ văn công… Rất nhiều nữ anh hùng đã vinh dự được gặp và báo công với Bác Hồ như: anh hùng Tạ Thị Kiều, anh hùng Hồ Kan Lịch, anh hùng Trần Thị Lý, anh hùng Ngô Thị Tuyển,… Và cũng có biết bao nữ anh hùng đã dùng máu của mình “nhuốm lá cờ đã đỏ càng đỏ thêm, đã tưới thêm cho cây tự do khai hoa kết quả” (22), như các liệt sĩ: Đặng Thị Kim, Hoàng Ngân, Nguyễn Thị Quang Thái, Mạc Thị Bưởi, Võ Thị Sáu, Đặng Thuỳ Trâm, Lê Thị Riêng,… 10 nữ liệt sĩ dân quân phòng không Lam Hạ, các nữ liệt sĩ hi sinh tại ngã ba Đồng Lộc, tại Truông Bồn – Nghệ An,… hay có cả liệt sĩ lớn tuổi như mẹ VNAH Nguyễn Thị Suốt. Nhưng:
“Chiến tranh càng khó bao nhiêu,
Tinh thần càng vững, càng nhiều chiến công.
…Vì lòng yêu nước nồng nàn,
Nêu gương oanh liệt muôn ngàn đời sau” (23).
Không chỉ anh dũng giữa trận tiền, mà ở hậu phương, những tấm gương sáng của các mẹ, các chị thật đáng khâm phục.
“Phong trào “Năm tốt” của phụ nữ miền Nam, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ miền Bắc là phong trào yêu nước nồng nàn và rộng khắp, lôi cuốn đông đảo phụ nữ hai miền thi đua sản xuất, phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu, góp phần to lớn vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của toàn dân” (24).
Trong việc giáo dục trẻ nhỏ, tấm gương của cụ Lê Thị Hoan thật đáng học hỏi: “Chúng ta có đại gia đình xã hội chủ nghĩa… Đã là đại gia đình, thì sự săn sóc, dạy dỗ cũng không chỉ nhằm làm cho con cháu mình khoẻ và ngoan, mà phải cố gắng giúp đỡ cho tất cả các cháu đều ngoan và khoẻ… cụ Lê Thị Hoan… đã có công giáo dục mấy chục cháu xấu trở thành những cháu tốt. Nếu tất cả chị em phụ nữ ta đều cố gắng làm được như cụ Hoan thì chắc chắn rằng con cháu chúng ta sẽ đều ngoan và tốt” (25).
Về việc cấp dưỡng, các chị đã thi đua tăng năng suất lao động gấp nhiều lần: “…trung bình mỗi chị đã phục vụ 75-100 người. Chị Kim Thị Cửu phục vụ đến 146 người, tức là 1 chị làm việc bằng 9 chị” (26).
Trên mặt trận ngoại giao, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam được ký kết vào tháng 1/1973, buộc Mỹ phải rút quân về nước, tạo tiền đề cho giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất hai miền. Đóng góp vào sự thắng lợi ấy có đồng chí Nguyễn Thị Bình - người phụ nữ kiên cường của miền Nam cũng là người phụ nữ duy nhất ký tên trên Hiệp định Paris. Bà đã hoàn thành nhiệm vụ mà Tổ quốc giao phó, bởi bà luôn khắc ghi trong tim lời dạy của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.
Trong các phong trào thi đua thiếu nhi làm theo lời Bác, nhiều cháu gái đã chăm ngoan học tốt và được thưởng huy hiệu Bác Hồ.
Gần 100 năm kể từ khi Đảng thành lập đến nay, phụ nữ Việt Nam dưới sự dẫn dắt của Đảng và Bác Hồ đã tích cực thực hiện cuộc đấu tranh nam nữ bình quyền và giành được nhiều kết quả tốt đẹp. Phụ nữ đã có tiếng nói trong gia đình và ngoài xã hội. Thực hiện lời dạy của Bác: “phụ nữ ta phải xoá bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hoá, kỹ thuật” (27), phụ nữ ta đã tham gia “ngày càng đông và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội” (28), ngay cả những ngành khó như chế tạo vũ khí phục vụ an ninh quốc phòng cũng đã có phụ nữ tham gia và dành được những thành tích phi thường. Kết quả là: “Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có phụ nữ” (29).
Trong phong trào “Đời sống mới”, nhờ tích cực thực hiện Cần – Kiệm – Liêm – Chính, nhiều phụ nữ đã hăng hái tham gia các công tác xã hội tại khắp các địa phương trên cả nước như: thực hiện công tác Đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ những người có công với cách mạng; giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn; giúp đỡ đồng bào khi hoạn nạn; thành lập các trung tâm chăm sóc người già, trẻ mồ côi, trẻ bị tàn tật, trẻ bị ung thư hoặc trẻ bị nhiễm chất độc màu da cam; các cô giáo vui vẻ cõng chữ lên non hoặc dạy chữ miễn phí cho trẻ em nghèo, hay có người phụ nữ tình nguyện chăm sóc bệnh nhân phong suốt gần 40 năm… Tấm lòng của các bà, các cô, các chị đối với xã hội thật đáng trân trọng. Nhờ có những tấm lòng vàng, nhiều con người yếu thế đã chiến thắng số phận và tiếp tục bước đi trên hành trình cống hiến cho xã hội.
Trong “phong trào bảo vệ hoà bình thế giới, phụ nữ cũng giữ một địa vị quan trọng” (30). Ngày nay, nhiều chiến sĩ nữ đã tình nguyện tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc. Các chị vui lòng đến những nơi đầy khó khăn và bất ổn ở tại Châu Phi xa xôi. Có chị là giáo viên, có chị là bác sĩ… nhưng hơn cả, các chị đã cùng với lực lượng gìn giữ hoà bình đem theo những tia hi vọng về một tương lai tươi sáng cho người dân tại lục địa đen.
Nhận thấy vai trò quan trọng của Phụ nữ đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, năm 2010, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đồng ý lấy ngày 20 tháng 10 hàng năm làm Ngày Phụ nữ Việt Nam. Đó là ngày để tôn vinh những đóng góp của những người phụ nữ đối với sự phát triển của đất nước, cũng là ngày để mỗi người đang sống hôm nay tưởng nhớ và tri ân công lao của các nữ anh hùng, nữ liệt sĩ trong lịch sử dân tộc. Chúng ta càng thấm thía câu nói của Bác Hồ: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” (31).
Ngày nay, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng toàn xã hội, phụ nữ ta có rất nhiều điều kiện thuận lợi để vươn lên và phát triển. Nhưng trong bối cảnh toàn cầu hoá, phụ nữ Việt Nam cũng đang đứng trước rất nhiều thách thức như: mất cân bằng giới tính, tỉ lệ sinh thấp, bạo lực trong gia đình, tình trạng nạo phá thai ở phụ nữ và trẻ vị thành niên, tình trạng xâm hại tình dục ở phụ nữ và trẻ em gái thậm chí ngay trong gia đình, bạo lực học đường, tình trạng ly hôn sớm, suy đồi đạo đức của một số bộ phận xã hội, xuất hiện các luồng tư tưởng lệch lạc trên không gian mạng,… thì người phụ nữ càng cần chú trọng đến vai trò của mình, đặc biệt là vai trò đối với thế hệ tương lai.
Bác Hồ từng căn dặn: “Chị em phụ nữ phải hết sức chăm lo bảo vệ sức khoẻ của con cái, vì thiếu nhi là tương lai của dân tộc” (32). Trong bức thư cuối cùng về thiếu niên, nhi đồng năm 1969, Bác tâm huyết dặn dò: “Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt” (33).
Kỷ nguyên mới đã đến. Mỗi người phụ nữ Việt Nam hôm nay hãy nâng cao tinh thần làm chủ, kế thừa truyền thống vẻ vang tổ tiên để lại, ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong mọi lĩnh vực để hoàn thành trách nhiệm to lớn đối với xã hội và với thế hệ tương lai, để thật xứng đáng 8 chữ vàng Bác Hồ đã trao tặng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.
Chú thích:
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 3, tr. 260
(2), (25), (28), (29) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr. 752, tr. 312, tr. 310
(3) Trích tại Văn bia Đền Quốc Tổ Lạc Long Quân – Khu Di tích Đền Hùng, Phú Thọ
(4), (5), (6) Trích tại bia đá ghi Lời thề của Hai Bà Trưng tại đền thờ Hai Bà Trưng, Mê Linh, Hà Nội
(7), (8), (9), (10), (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 520 – 521, tr. 512, tr. 313 - 314
(11) Sách Bác Hồ với thiếu niên nhi đồng, Nxb. Thanh niên, 2023, tr. 63
(12), (21), (24), (33) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 260; tr. 173; tr. 579
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 114
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 22
(16), (31) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 342; tr. 340
(17), (18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr. 153; tr. 199 – 200
(19), (22), (23), (26) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 487, tr. 154, tr. 419 – 420, tr. 330
(20), (30) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr. 80
(27) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 59
(32) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 54