
Tài sản trí tuệ cần được khai thác sau bảo hộ
Hội thảo “Tăng cường quản lý, khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ” tại Cần Thơ đặt vấn đề đưa tài sản trí tuệ từ khâu đăng ký, bảo hộ sang khai thác, định giá và thương mại hóa, góp phần tạo thêm giá trị cho doanh nghiệp, sản phẩm chủ lực và kinh tế địa phương.
Phát biểu khai mạc hội thảo, bà Lê Mỹ Hạnh, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Cần Thơ cho rằng, trong nền kinh tế tri thức và kinh tế số, tài sản trí tuệ không chỉ dừng lại ở một văn bằng bảo hộ mà cần được quản lý, khai thác hiệu quả để tạo ra giá trị kinh tế, thương mại và xã hội.
Theo số liệu tổng hợp của thành phố, đến nay Cần Thơ có 12.187 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, trong đó có 11.525 nhãn hiệu, 421 kiểu dáng công nghiệp và 241 sáng chế. Số văn bằng bảo hộ đã được cấp khoảng 8.856, gồm 8.478 nhãn hiệu, 295 kiểu dáng công nghiệp và 83 sáng chế.
Những con số trên cho thấy hoạt động đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố đã có bước phát triển. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là sau khi được bảo hộ, tài sản trí tuệ sẽ tiếp tục được phát triển và tạo giá trị như thế nào trên thị trường.
Đây cũng là một trong những nội dung trọng tâm được đặt ra tại hội thảo, nhất là trong bối cảnh Cần Thơ có nhiều sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, thực phẩm, sản phẩm OCOP cùng các kết quả nghiên cứu khoa học và sản phẩm, dịch vụ có tiềm năng phát triển dựa trên tài sản trí tuệ.

Định giá, thương mại hóa tài sản trí tuệ để tạo giá trị
Theo Sở Khoa học và Công nghệ TP Cần Thơ, thành phố đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ hoạt động sở hữu trí tuệ. Trong đó có Nghị quyết số 36/2025/NQ-HĐND ngày 31/12/2025 quy định mức hỗ trợ đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ đến năm 2030 trên địa bàn thành phố.
Bên cạnh đó, Quyết định số 2724/QĐ-UBND ngày 1/12/2025 của Chủ tịch UBND thành phố phê duyệt Chương trình phát triển tài sản trí tuệ TP Cần Thơ đến năm 2030.
Từ khi chính sách hỗ trợ được triển khai, giai đoạn từ năm 2021 đến nay, thành phố đã hỗ trợ khoảng 4,5 tỷ đồng cho hơn 250 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, hợp tác xã đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ; hỗ trợ hơn 30 tỷ đồng để triển khai thực hiện 20 nhiệm vụ khoa học và công nghệ về tạo lập và khai thác tài sản trí tuệ.
Mục tiêu đến năm 2030, số lượng đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16–18%/năm, tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8–10%; số đơn đăng ký nhãn hiệu tăng bình quân 8–10%/năm; hỗ trợ tối thiểu 60% sản phẩm, dịch vụ chủ lực, đặc thù và sản phẩm OCOP của thành phố trong đăng ký, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ.
Từ thực tế này, hội thảo tập trung trao đổi về thực trạng quản lý, khai thác tài sản trí tuệ gắn với chuyển đổi số và phát triển kinh tế số; đồng thời bàn về định giá tài sản trí tuệ và các giải pháp tăng cường quản lý, khai thác, thương mại hóa.

Phát biểu tại hội thảo, TS. Nguyễn Hữu Cẩn, Quyền Viện Trưởng Viện Sở hữu trí tuệ quốc gia nhấn mạnh, quản trị tài sản trí tuệ (TSTT) là một chu trình khép kín gồm sáng tạo, xác lập quyền và khai thác thương mại. Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu trở thành nguồn lực quan trọng tác động đến cả ba khâu, từ hỗ trợ tạo ra sáng chế, tra cứu và xác lập quyền đến đánh giá thị trường, tìm kiếm đối tác và hạn chế rủi ro khi thương mại hóa. Vì vậy, hiệu quả của TSTT không chỉ nằm ở việc được cấp bằng bảo hộ mà quan trọng hơn là khả năng đưa sáng chế vào sản xuất, kinh doanh và tạo ra giá trị thực tế.
Theo TS. Nguyễn Hữu Cẩn, một trong những điểm nghẽn hiện nay là nhiều sáng chế dù được bảo hộ nhưng chưa đủ mức độ sẵn sàng công nghệ (TRL) để chuyển sang thị trường. Thực tế tại Cần Thơ cho thấy số lượng bằng, đơn bảo hộ có tín hiệu tích cực nhưng tỷ lệ thương mại hóa còn hạn chế.
Do đó, cần chú trọng ngay từ giai đoạn tiền thương mại hóa, đồng thời xây dựng nền tảng dữ liệu TSTT dùng chung, nâng cao năng lực khai thác dữ liệu cho doanh nghiệp, viện, trường. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo hạ tầng dữ liệu và chính sách, còn con người và năng lực quản trị vẫn là yếu tố quyết định trong việc biến TSTT thành nguồn lực phát triển kinh tế số.

Việc chuyển trọng tâm từ đăng ký, bảo hộ sang khai thác và thương mại hóa được đặt trong yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Qua đó, tài sản trí tuệ có thể được nhìn nhận không chỉ là kết quả của hoạt động nghiên cứu hay công cụ bảo vệ quyền lợi, mà còn là nguồn lực phục vụ phát triển sản phẩm, doanh nghiệp và kinh tế địa phương.