Chính phủ trình Quốc hội cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển du lịch Việt Nam

Tiếp tục chương trình nghị sự kỳ họp thứ 2, sáng nay (7/11), Quốc hội nghe báo cáo về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển du lịch Việt Nam.
17940170238366613663718656632052g7464688259914041259a3ff8588634f6c3a2b79c11b107f7f81-17940172371891867697446-1794024908.jpg
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết dự thảo Nghị quyết gồm 14 điều với 7 nhóm chính sách - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển du lịch, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết dự thảo Nghị quyết gồm 14 điều với 7 nhóm chính sách.

Thứ nhất, về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đối với dự án du lịch (Điều 3, Điều 4, Điều 5, Điều 6): Xác định địa bàn ưu tiên gồm 3 cực tăng trưởng du lịch (TP. Hà Nội, TPHCM, TP. Đà Nẵng) theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW, trung tâm du lịch, khu du lịch quốc gia, địa điểm tiềm năng phát triển khu du lịch quốc gia theo Quy hoạch hệ thống du lịch, địa điểm du lịch cộng đồng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo, biên giới, nông thôn và địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn.

Thứ hai, về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và liên kết cộng đồng trong hoạt động du lịch (Điều 7): Thí điểm giảm tối đa 30% tiền thuê đất đối với phần diện tích đất cảnh quan, cây xanh, mặt nước, không gian sử dụng chung không khai thác kinh doanh trực tiếp của khách sạn nghỉ dưỡng hạng 4 sao trở lên tại trung tâm du lịch, khu du lịch quốc gia có mật độ xây dựng gộp dưới 25%; hỗ trợ doanh nghiệp mở đường bay mới phục vụ du lịch và tổ chức, doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú có hợp đồng tiêu thụ dài hạn sản phẩm OCOP theo quy định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Thứ ba, về hỗ trợ, ưu đãi đối với mô hình kinh doanh du lịch mới (Điều 8): Mô hình có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kinh doanh trên nền tảng số, tổ hợp du lịch - giải trí - văn hóa - thể thao, kết hợp du lịch với chăm sóc sức khỏe, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, có quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ; đối tượng do Chính phủ quy định được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo.

Thứ tư, về thử nghiệm có kiểm soát một số mô hình, hoạt động kinh doanh du lịch (Điều 9): Đối với tổ hợp biểu diễn nghệ thuật, trung tâm hòa nhạc, phố lễ hội, khu giải trí tích hợp quy mô lớn, kinh tế đêm được hoạt động 24/7, áp dụng thủ tục rút gọn, cấp phép một lần; thực hiện theo đề án do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng, được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, thời hạn tối đa 05 năm.

Thứ năm, về hỗ trợ phát triển nhân lực du lịch (Điều 10): Ngân sách nhà nước hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao, nhân lực chuyên sâu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sáng tạo nội dung số, ngoại ngữ, kỹ năng nghề, quản trị du lịch và nhân lực tại chỗ ở địa bàn du lịch cộng đồng; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định chính sách thu hút, hỗ trợ nhân lực và nâng cao năng lực cơ sở đào tạo du lịch.

Thứ sáu, về thị thực đặc biệt tạo thuận lợi nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với khách du lịch quốc tế (Điều 11): Mở rộng miễn thị thực song phương cho khách từ các thị trường trọng điểm; áp dụng thị thực linh hoạt theo từng thị trường, ưu tiên khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày, khách quay trở lại, khách hội nghị, hội thảo; thí điểm có kiểm soát đối với người nước ngoài làm việc từ xa, khám bệnh, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe dài ngày; tạo thuận lợi về giấy phép lao động, thị thực, tạm trú cho chuyên gia, nghệ sĩ nước ngoài làm việc tại các dự án du lịch.

Thứ bảy, về hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho phát triển du lịch (Điều 12): Ưu tiên bố trí vốn đầu tư hạ tầng thiết yếu và hạ tầng giao thông kết nối đa phương thức từ các cửa ngõ quốc tế đến các cực tăng trưởng, trung tâm du lịch, khu du lịch quốc gia; hỗ trợ kinh phí thực hiện Chương trình xúc tiến du lịch quốc gia; ngân sách Trung ương ưu tiên bổ sung có mục tiêu cho địa phương phát triển du lịch cộng đồng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh phát triển du lịch xanh.

Ngoài ra, dự thảo Nghị quyết quy định rõ các nguyên tắc công khai, minh bạch, có thời hạn, không hỗ trợ trùng lặp, lựa chọn mức ưu đãi có lợi nhất, không cộng dồn, chấm dứt và hoàn trả ưu đãi khi không đáp ứng điều kiện.

Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/1/2027 đến hết ngày 31/12/2036. Chính phủ báo cáo Quốc hội hằng năm, sơ kết 5 năm, tổng kết 10 năm. Dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư trong thời hạn 3 năm trước ngày Nghị quyết có hiệu lực, đáp ứng đủ điều kiện được xem xét hưởng ưu đãi cho thời gian còn lại, không áp dụng hồi tố.

Thẩm tra về dự án Nghị quyết, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội tán thành với sự cần thiết ban hành Nghị quyết theo trình tự, thủ tục rút gọn nhằm kịp thời thể chế hóa và triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị; cho rằng Hồ sơ bảo đảm đầy đủ theo quy định. Dự thảo Nghị quyết phù hợp với Hiến pháp, tương thích với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; đã bám sát các chủ trương, định hướng lớn của Nghị quyết số 26-NQ/TW. Dự thảo Nghị quyết không quy định các thủ tục hành chính; cơ bản bảo đảm các quy định về bình đẳng giới, chính sách dân tộc.

Đồng thời, Ủy ban tán thành việc ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Quốc hội mà chưa được luật quy định hoặc đã quy định nhưng chưa đủ mạnh để tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch; tập trung vào các dự án có khả năng dẫn dắt, lan tỏa, thúc đẩy du lịch phát triển đột phá tại các địa bàn theo định hướng phát triển.

Tuy nhiên, Ủy ban đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, đối chiếu với các luật có liên quan, nhất là một số dự án luật đang trình Quốc hội tại kỳ họp này; rà soát các quy định về phân quyền, phân cấp; hoàn thiện dự thảo văn bản hướng dẫn thi hành để bảo đảm thống nhất, đồng bộ và khả thi trong quá trình tổ chức thực hiện. Làm rõ hơn các tác động đối với ngân sách và phương án bảo đảm nguồn lực của từng chính sách.