Đổi mới đào tạo nhân lực chất lượng cao ngành y tế

Đào tạo bác sĩ nội trú cũng là một hệ đào tạo đặc thù của khối ngành sức khỏe. Trong bối cảnh cả ngành y tế cũng như giáo dục đại học đang đứng trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, thì việc đào tạo đội ngũ nhân lực này cũng cần phải có những thay đổi.
z7788583377106-ee5de0f28b3b3e63674a25027148cb7a-1777866281.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Như Hải, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) hướng dẫn sinh viên về thực hành lâm sàng răng hàm mặt.

Cung không đủ cầu

Tại Việt Nam, đào tạo bác sĩ nội trú bắt đầu được triển khai từ năm 1974. Đến nay, cả nước có 13 trong tổng số 34 trường đại học khối ngành y dược được cấp phép đào tạo loại hình đặc thù này. Tính đến hết năm 2025, các cơ sở đã đào tạo được 8.441 bác sĩ nội trú và dự kiến trong năm 2026 sẽ có thêm 1.276 bác sĩ nội trú tốt nghiệp. Hai trường đại học là Y Hà Nội và Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh có truyền thống đào tạo và chiếm phần lớn số bác sĩ nội trú đã tốt nghiệp.

Tại các bệnh viện, bác sĩ nội trú là nguồn nhân lực chất lượng cao, đóng vai trò nòng cốt trong công tác khám bệnh, chữa bệnh, tăng cường trực cấp cứu, hồi sức; tham gia công tác đào tạo, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới; hướng dẫn sinh viên thực hành; nghiên cứu khoa học...

Yếu tố tạo nên sự thành công của mô hình đào tạo bác sĩ nội trú tại Việt Nam đó là việc tổ chức tuyển sinh, lựa chọn chuyên ngành công khai, công bằng và có tính cạnh tranh.

Quy trình đào tạo bác sĩ nội trú rất chặt chẽ, quá trình học không phải trên giảng đường mà phần lớn là tại cơ sở thực hành (bệnh viện). Người thầy vừa hướng dẫn, kèm cặp, giám sát, hỗ trợ và chuyển giao kiến thức, kỹ năng, thái độ cho người học. Do những yêu cầu khắt khe cũng như quy định chặt chẽ trong tuyển sinh, tiêu chí lựa chọn đầu vào, quy trình đào tạo… cho nên số lượng bác sĩ nội trú được tuyển chọn, đào tạo hằng năm chỉ chiếm khoảng 4 đến 5% tổng số bác sĩ tốt nghiệp.

Là nguồn nhân lực chất lượng cao, có số lượng ít, cho nên sau khi tốt nghiệp, gần như tất cả bác sĩ nội trú đều làm việc tại các bệnh viện trung ương, tuyến cuối. Hiện tất cả các bệnh viện, kể cả bệnh viện tuyến cuối, vẫn đang thiếu và có nhu cầu tuyển dụng bác sĩ nội trú.

Một khảo sát được Trường đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) vừa thực hiện ở hơn 30 bệnh viện tuyến trung ương và địa phương (Bạch Mai, E, Nhi trung ương, Nghệ An, Phú Thọ, Thanh Hóa…) cho thấy nhu cầu cần tuyển bác sĩ nội trú trong hai năm 2026 và 2027 lên tới khoảng 7.500 người, có bệnh viện cần tuyển tới 400 bác sĩ nội trú.

Từ thực tiễn quản lý địa phương, Tiến sĩ Lê Văn Cường, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Thanh Hóa cho rằng, cần hướng tới nâng tỷ lệ bác sĩ nội trú từ khoảng 4 đến 5% như hiện nay lên 10% trong tương lai để đủ đáp ứng nhu cầu từ tuyến tỉnh trở lên, song điều kiện tiên quyết là phải có cơ chế hỗ trợ tài chính cho người học và bài toán phân bổ nhân lực hợp lý.

Bên cạnh nhu cầu nguồn nhân lực của các bệnh viện, thời gian qua, Đảng và Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ đặc biệt quan tâm, chỉ đạo và đã ban hành nhiều văn bản quan trọng, giao ngành y tế tập trung phát triển nhân lực y tế bảo đảm đồng bộ về số lượng và chất lượng, nhất là phát triển nhân lực y tế chuyên sâu chất lượng cao, phát triển nhân lực y tế cho các trạm y tế tuyến xã phù hợp mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Đổi mới toàn diện đào tạo bác sĩ nội trú

Việt Nam đang đối diện với hai thách thức: Tăng số lượng bác sĩ chuyên khoa để đáp ứng nhu cầu xã hội và bảo đảm chất lượng để hội nhập quốc tế, do vậy, mô hình đào tạo bác sĩ nội trú cần phải được thay đổi.

Nhìn nhận về “thời cơ” đổi mới đào tạo bác sĩ nội trú, lãnh đạo các bệnh viện như Phụ sản Trung ương, Răng hàm mặt Trung ương, E, Da liễu Trung ương… đều cho rằng đây là thời điểm thích hợp. Nhưng phải có lộ trình rất chi tiết, thậm chí kéo dài hàng chục năm, từ việc tăng chỉ tiêu, đến cấu trúc lại chương trình đào tạo, hình thức, thời gian đào tạo; quy định về tuyển sinh đầu vào, thi tốt nghiệp đầu ra; tiêu chuẩn giảng viên, điều kiện cơ sở thực hành… Mặc dù nhu cầu cần thêm nhiều bác sĩ nội trú, nhưng yếu tố quan trọng nhất là phải kiểm soát được chất lượng đầu vào.

Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc Nhân dân Lê Ngọc Thành, Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, đã đến lúc cần cải cách toàn diện và đồng bộ trong đào tạo nhân lực y khoa vừa đáp ứng nhu cầu xã hội vừa hội nhập quốc tế.

Ông Thành cho biết, việc đào tạo bác sĩ nội trú phải được xem là giai đoạn then chốt để hình thành tay nghề chuyên sâu. Từ đó, ông đề xuất một lộ trình: Xây dựng kỳ thi quốc gia để xếp hạng năng lực, làm cơ sở để sinh viên chọn chuyên khoa và bệnh viện thực hành. Điều này không chỉ bảo đảm tính minh bạch, công bằng mà còn giúp phân bổ nguồn lực y tế chất lượng cao một cách hợp lý hơn. Theo đó, thời gian đào tạo đại học là sáu năm và sau đại học là từ 3 đến 5 năm (tùy chuyên khoa).

Cùng chung quan điểm, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Tú, Hiệu trưởng Trường đại học Y Hà Nội cho rằng, việc đào tạo bác sĩ nội trú trên thế giới đã và đang có rất nhiều thay đổi. Đào tạo bác sĩ nội trú nên được xác định là đào tạo chuyên khoa sâu, kéo dài 4 đến 5 năm, đồng thời điều chỉnh tiêu chí đầu vào theo hướng phù hợp. Hiện Hội đồng Y khoa quốc gia đang chuẩn bị để từ cuối năm 2027 tổ chức kỳ thi đánh giá năng lực trên toàn quốc, các cơ sở đào tạo có thể tích hợp hai kỳ thi này.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trung Kiên, Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược Cần Thơ cho rằng, việc triển khai đổi mới chắc chắn cần lộ trình, nhưng không thể kéo dài hơn nữa nếu muốn hội nhập. Ông đề xuất cần tích hợp kỳ thi đánh giá năng lực, thi đầu vào đào tạo chuyên khoa và cấp chứng chỉ hành nghề để giảm áp lực cho người học, tiết kiệm nguồn lực và tăng hiệu quả quản lý.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tri Thức, Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết, lần đầu tiên chức danh bác sĩ nội trú được đưa vào luật khi Luật Giáo dục đại học năm 2025 đã quy định: Chương trình đào tạo chuyên sâu trình độ sau đại học thuộc lĩnh vực sức khỏe, cấp văn bằng bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa do Bộ trưởng Y tế hướng dẫn, tổ chức thực hiện và quản lý. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc sửa đổi Nghị định số 111/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức đào tạo thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe; đồng thời sớm có hướng dẫn việc tổ chức thực hiện chương trình đào tạo chuyên khoa sâu sau đại học thuộc lĩnh vực sức khỏe cấp văn bằng bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa... Từ đó siết chặt chất lượng, tránh tình trạng mở mã ngành tràn lan nhưng chất lượng không bảo đảm.

Hiện nay việc xây dựng khung pháp lý cho đào tạo bác sĩ nội trú đang bước vào giai đoạn quan trọng. Bộ Y tế sẽ có hướng dẫn tổ chức thực hiện và quản lý chương trình bác sĩ nội trú, trong đó tập trung vào hai trụ cột: chuẩn chương trình đào tạo theo từng chuyên khoa và tiêu chuẩn bệnh viện thực hành theo năng lực tiếp nhận của từng cơ sở.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quốc Huy, Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược (Đại học Huế) cho rằng, thông tư hướng dẫn đào tạo chuyên khoa cần xác lập một khung chuẩn chung về năng lực, nhưng vẫn cho phép linh hoạt trong triển khai theo đặc thù từng chuyên ngành và từng cơ sở thực hành. Có những chuyên ngành đòi hỏi thời gian đào tạo dài hơn, tương tự các mô hình quốc tế, do đó Việt Nam cần tiếp cận theo hướng phân tầng thời gian đào tạo thay vì áp dụng một khuôn mẫu cứng.