Hội thảo có sự tham dự của đại diện các bộ, ban, ngành Trung ương cùng đông đảo các chuyên gia kinh tế hàng đầu và các doanh nghiệp.
Phát biểu khai mạc hội thảo, nhà báo Phạm Đức Sơn - Tổng Biên tập Tạp chí Nhà đầu tư cho biết, ngày 27/6, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 168/NQ-CP về cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm nhằm quyết tâm đưa tăng trưởng kinh tế năm 2026 đạt từ 10% trở lên, trong đó 6 tháng cuối năm phấn đấu tăng trưởng 11,9%.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP cao trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026-2030, nhu cầu sử dụng vốn là rất lớn. Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương bình quân khoảng 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, gấp hơn 2 lần giai đoạn 2021 - 2025.
Trong khi đó, các kênh dẫn vốn khác vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Tính đến cuối tháng 5/2026, vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt trên 10,6 triệu tỷ đồng, tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025. Dư nợ trái phiếu doanh nghiệp mới đạt khoảng 1 triệu tỷ, tương đương khoảng 10% GDP… Những con số còn khiêm tốn so với nhiều nền kinh tế khác.
Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cho biết, đến ngày 13/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025. Như vậy, chỉ trong hơn nửa đầu năm, hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế, góp phần hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ, cao hơn mức 7,63% của cùng kỳ năm 2025 và là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011 - 2026. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, kết quả này có sự đóng góp quan trọng của chính sách tiền tệ và tín dụng.
Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng hướng dòng vốn vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng và các dự án trọng điểm; đồng thời rà soát, hoàn thiện cơ chế tín dụng, đơn giản hóa thủ tục và tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp.
Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng và giai đoạn 2026 - 2030 lên tới 38,5 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào vốn ngân hàng.
Đáng chú ý, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và công trình trọng điểm ngày càng tăng, trong khi nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn. Điều này làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn và tạo áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng.
"Cần phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, để tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế, qua đó giảm áp lực cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng. Bên cạnh điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt, cần đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ vướng mắc cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Đây là những điều kiện quan trọng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên, đồng thời giữ vững ổn định vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng", bà Hà Thu Giang nhấn mạnh.
Cũng tại hội thảo, ông Hà Duy Tùng - Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục mở rộng mạnh mẽ và ngày càng khẳng định vai trò là kênh dẫn vốn trung, dài hạn quan trọng của nền kinh tế.
Năm 2026 là năm mở đầu giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội 2026 - 2030, đặt nền tảng cho mục tiêu đưa Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng bứt phá. Trong 6 tháng đầu năm, kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán ghi nhận nhiều kết quả tích cực.
Thị trường chứng khoán giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn chủ sở hữu, huy động trái phiếu dài hạn để đầu tư hạ tầng, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất mà không chịu áp lực trả nợ gốc trong ngắn hạn. Sự phát triển của thị trường cũng góp phần đa dạng hóa công cụ tài chính, giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và hạn chế rủi ro mang tính hệ thống.
Ở góc độ xã hội, thị trường chứng khoán là kênh chuyển hóa nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư thành nguồn vốn đầu tư trực tiếp vào sản xuất, kinh doanh, qua đó giúp người dân cùng chia sẻ thành quả tăng trưởng của doanh nghiệp.
Một nội dung được Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đặc biệt nhấn mạnh là việc FTSE Russell công bố nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp vào tháng 10/2025, dự kiến có hiệu lực từ ngày 21/9/2026.
"Nâng hạng thị trường chứng khoán không phải là cái đích cuối cùng, mà là đòn bẩy chiến lược để xây dựng một thị trường vốn chuyên nghiệp, minh bạch và tiệm cận các chuẩn mực tài chính toàn cầu", ông Hà Duy Tùng khẳng định.
Tại hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn", các đại biểu đã cùng nhau trao đổi, tạo diễn đàn đối thoại chính sách giữa cơ quan quản lý, tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp; qua đó góp ý, đề xuất giải pháp phát triển thị trường vốn đồng bộ và bền vững, thúc đẩy hình thành mô hình dẫn vốn cân bằng hơn giữa hệ thống ngân hàng và thị trường vốn, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao của nền kinh tế trong giai đoạn mới.