Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 358/2026/NĐ-CP ngày 15/9/2026 về cơ chế hoạt động và quản lý tài chính của Công ty TNHH MTV Mua bán nợ Việt Nam (DATC). Nghị định có hiệu lực từ ngày 30/10/2026 và thay thế Nghị định số 129/2020/NĐ-CP ngày 27/10/2020 về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của DATC.
Theo Nghị định, DATC là công cụ của Chính phủ hỗ trợ cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác thông qua việc tiếp nhận, mua, xử lý nợ và tài sản theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Bên cạnh đó, DATC thực hiện mua, xử lý các khoản nợ và tài sản theo cơ chế thị trường, bảo đảm nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Nghị định quy định 7 nhóm ngành nghề, hoạt động kinh doanh của DATC. Trong đó, doanh nghiệp được tiếp nhận, xử lý nợ và tài sản theo quy định của pháp luật về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, trong đó có đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cổ phần hóa.
DATC cũng tiếp nhận, xử lý theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với các khoản nợ phải thu và tài sản, bao gồm tài sản tồn đọng, tài sản gắn với xử lý nợ, để tiếp tục đầu tư, khai thác hoặc xử lý, thu hồi vốn cho Nhà nước theo quy định.
Đối với các khoản nợ và tài sản mua, DATC được mua, xử lý theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bao gồm cả các dự án cần hỗ trợ xử lý nợ để tiếp tục đầu tư, khai thác. Đồng thời, doanh nghiệp được mua, xử lý các khoản nợ và tài sản của doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác.
Một nhóm hoạt động khác là tái cơ cấu doanh nghiệp thông qua mua, bán, xử lý nợ và tài sản.
DATC còn được quản lý, đầu tư, khai thác và kinh doanh tài sản; kinh doanh bất động sản gắn với hoạt động xử lý nợ và tài sản tiếp nhận. Phạm vi này gồm tài sản bảo đảm cho các khoản nợ DATC mua, tiếp nhận; tài sản nhận cấn trừ nợ; tài sản mua, tiếp nhận theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định pháp luật.
Doanh nghiệp cũng được mua, quản lý, nhận chuyển giao nghĩa vụ nợ, xử lý nợ và tài sản có nguồn gốc từ Chính phủ, Nhà nước theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Phạm vi này bao gồm nợ, tài sản hình thành từ vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ và nợ, tài sản hình thành từ vốn vay Chính phủ bảo lãnh. DATC đồng thời được quản lý, khai thác tài sản công theo quy định.
Ngoài các hoạt động trên, DATC được cung cấp dịch vụ tư vấn xử lý nợ, tài sản, mua, bán, sáp nhập, tái cơ cấu doanh nghiệp; thực hiện các dịch vụ thẩm định giá, quản lý nợ và tài sản khi đáp ứng đầy đủ điều kiện hoạt động theo quy định pháp luật.
Nghị định 358/2026/NĐ-CP quy định DATC xác định nhu cầu vốn điều lệ cần bổ sung theo quy định về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đồng thời căn cứ vào nhu cầu vốn phục vụ các dự án và hoạt động kinh doanh.
Đối với các dự án đầu tư, nhu cầu vốn điều lệ được xác định trên cơ sở mức đầu tư của DATC, bao gồm dự án đầu tư hình thành từ cấn trừ nợ bằng tài sản, dự án bất động sản đã mua, tiếp nhận theo chỉ định được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc quyết định chủ trương đầu tư trong giai đoạn từ thời điểm vốn điều lệ được phê duyệt gần nhất đến năm điều chỉnh vốn điều lệ.
Nhu cầu vốn cũng căn cứ vào kế hoạch đầu tư dự án đã được duyệt, tương ứng với mức vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, Quỹ đầu tư phát triển và các nguồn hợp pháp khác được ghi trong các dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với hoạt động kinh doanh, nhu cầu bổ sung vốn điều lệ được xác định gắn với quy mô doanh thu kế hoạch. Cụ thể, nhu cầu bổ sung vốn điều lệ bằng doanh thu kế hoạch bình quân chia cho vòng quay vốn lưu động bình quân năm, sau đó trừ vốn đầu tư của chủ sở hữu.
Trong đó, doanh thu kế hoạch bình quân được xác định từ doanh thu kế hoạch bình quân của 5 năm, tính từ năm xác định điều chỉnh vốn điều lệ. Vòng quay vốn lưu động bình quân năm được tính bằng tổng giá trị vòng quay vốn lưu động của 5 năm liền kề trước năm xác định điều chỉnh vốn điều lệ chia cho 5.
Vòng quay vốn lưu động của từng năm được xác định bằng tổng doanh thu thực hiện trong năm chia cho vốn lưu động bình quân của năm đó. Vốn lưu động bình quân năm bằng tổng vốn lưu động đầu năm và cuối năm chia cho 2.
Vốn đầu tư của chủ sở hữu được xác định theo số dư cuối năm tại mã số 411 - “Vốn đầu tư của chủ sở hữu” trên Bảng báo cáo tình hình tài chính trong Báo cáo tài chính của năm liền kề trước năm xác định điều chỉnh vốn điều lệ.
Về quản lý doanh thu và chi phí, Nghị định quy định DATC ghi nhận doanh thu, chi phí từ hoạt động mua, xử lý nợ và tài sản là toàn bộ các khoản thu, chi phát sinh trong quá trình mua, xử lý nợ và tài sản, theo quy định đối với từng hình thức xử lý.
DATC thực hiện trích lập và sử dụng các khoản dự phòng theo quy định đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Đối với các khoản nợ phát sinh từ hoạt động mua, bán, xử lý nợ và tái cơ cấu doanh nghiệp, thời gian quá hạn và giá trị quá hạn thanh toán được xác định căn cứ vào thời điểm chuyển giao quyền chủ nợ cho DATC hoặc theo cam kết trả nợ gần nhất của bên nợ, phù hợp với phương án xử lý khoản nợ đã mua.
DATC quyết định mức trích lập dự phòng hằng năm trên cơ sở khả năng thu hồi nợ tại năm trích lập. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải bảo đảm trích đủ 100% giá mua nợ còn lại trong thời gian không quá 5 năm kể từ thời điểm khoản nợ quá hạn theo quy định.
Nghị định cũng cho phép DATC hạch toán, phân bổ doanh thu và chi phí trong trường hợp bán nợ trả chậm hoặc thu nợ nhiều lần.
Nghị định 358/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 30/10/2026, đồng thời bãi bỏ Nghị định số 129/2020/NĐ-CP ngày 27/10/2020 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của DATC.
Kể từ ngày 30/10/2026, đối với các phương án mua, xử lý nợ và tài sản đã được phê duyệt trước thời điểm này, DATC được lựa chọn tiếp tục thực hiện theo phương án đã được phê duyệt hoặc sửa đổi, bổ sung phương án để thực hiện theo quy định mới tại Nghị định 358/2026/NĐ-CP.
Đối với các khoản chi phí thực hiện nhiệm vụ theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phát sinh trước ngày 30/10/2026, DATC được hạch toán vào chi phí của doanh nghiệp.