Từ hồ sơ “đủ điều kiện cấp giấy” đến quyết định từ chối
Theo hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm số 20/2026/HC-ST của TAND TP.HCM, tranh chấp phát sinh từ phần diện tích thuộc thửa đất số 244, tờ bản đồ số 68 tại phường Vĩnh Phú, TP Thuận An, tỉnh Bình Dương cũ (nay là TP.HCM).
Gia đình ông Nguyễn Văn Bảnh và bà Huỳnh Ngọc Cẩm (ngụ phường Bình Hòa, TP.HCM) cho biết phần đất này nằm trong diện tích nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn Quan từ năm 1997 và được quản lý, sử dụng ổn định từ đó đến nay. Khi đo đạc thực tế, diện tích sử dụng lớn hơn phần đã được cấp giấy chứng nhận trước đây, nên năm 2021 gia đình làm thủ tục đề nghị cấp đổi, cấp bổ sung giấy chứng nhận theo quy định.
Sau đó, hồ sơ được UBND phường Vĩnh Phú cùng các cơ quan chuyên môn tiến hành xác minh nhiều lần. Các bước từ đo đạc hiện trạng, kiểm định bản vẽ kỹ thuật, niêm yết công khai, lấy ý kiến khu dân cư, xác nhận ranh giới đều được thực hiện theo quy trình.
Đáng chú ý, ngày 7/3/2023, UBND phường Vĩnh Phú xác nhận khu đất sử dụng ổn định, không tranh chấp, phù hợp quy hoạch và đủ điều kiện đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Không chỉ vậy, gia đình cũng đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính theo yêu cầu của cơ quan nhà nước. Với những xác nhận này, gia đình ông Bảnh và bà Cẩm tin rằng hành trình kéo dài hơn 25 năm cuối cùng cũng sắp đi đến hồi kết.
Tuy nhiên, chỉ ít tuần sau đó, Phòng Tài nguyên và Môi trường TP. Thuận An ban hành Báo cáo số 153/BC-TNMT đề nghị không giải quyết hồ sơ. Cụ thể, ngày 3/4/2023, UBND TP. Thuận An có văn bản cho rằng thửa đất số 244 được thể hiện trên hồ sơ địa chính là đất mặt nước (ký hiệu Mn/Hg), chưa đưa vào sử dụng và yêu cầu rà soát, xác minh lại.
Theo hồ sơ vụ án, trong quá trình xác minh bổ sung, cơ quan địa chính địa phương ghi nhận hiện trạng khu đất là một mương nước nhỏ tồn tại từ trước năm 1975; chiều rộng dao động từ khoảng 1,5m đến 3,4m và không có rạch 9m.
Nguồn gốc đất cũng được xác định là đất trồng lúa theo hồ sơ 299/TTg. Tuy nhiên, các kết quả xác minh này không làm thay đổi quan điểm của cơ quan có thẩm quyền.
Ngày 28/6/2023, UBND TP Thuận An tiếp tục ban hành văn bản từ chối công nhận quyền sử dụng đất với lý do thửa đất là đất mặt nước.
Nhiều văn bản xác nhận bị thu hồi
Một trong những nội dung khiến gia đình bà Cẩm bức xúc là sau khi họ gửi đơn khiếu nại, UBND phường Vĩnh Phú đã ban hành thông báo thu hồi nhiều văn bản xác minh, xác nhận đã được ký trước đó liên quan đến hồ sơ cấp giấy chứng nhận.
Theo phản ánh của người dân, có tới 9 loại tài liệu mang dấu xác nhận của cơ quan nhà nước từng được sử dụng làm căn cứ giải quyết hồ sơ nay bị thu hồi. Bà Cẩm cho rằng, nếu những xác minh trước đây là sai thì ai phải chịu trách nhiệm? Còn nếu những xác minh đó là đúng thì vì sao quyền lợi của người dân lại bị phủ nhận?
“Trước đây chính quyền xác nhận đất đủ điều kiện cấp giấy. Sau đó lại tự thu hồi chính những văn bản do mình ban hành rồi kết luận đất không đủ điều kiện. Chúng tôi không biết phải tin vào kết quả nào của cơ quan nhà nước”, bà Cẩm bức xúc nói.
Sau khi các quyết định giải quyết khiếu nại của UBND TP Thuận An và UBND tỉnh Bình Dương (cũ) đều giữ nguyên quan điểm từ chối công nhận quyền sử dụng đất, ông Nguyễn Văn Bảnh và bà Huỳnh Ngọc Cẩm đã khởi kiện vụ án hành chính ra tòa án.
Tháng 1/2026, TAND TP.HCM đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.Thế nhưng, bản án hành chính sơ thẩm số 20/2026/HC-ST ngày 22/01/2026 của TAND TP.HCM đã bác yêu cầu khởi kiện của người dân. Theo đó, quyền sử dụng đất ổn định nhiều chục năm tiếp tục bị “treo”, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Không đồng ý với phán quyết của cấp sơ thẩm, gia đình tiếp tục thực hiện quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Theo luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, điểm mấu chốt của vụ án nằm ở việc xác định bản chất pháp lý của thửa đất số 244. Nếu đây là đất công hoặc đất mặt nước do Nhà nước quản lý thì cơ quan chức năng phải xuất trình được hồ sơ quản lý công sản tương ứng, thể hiện quá trình quản lý liên tục qua các thời kỳ.
Tuy nhiên, theo quan điểm của phía nguyên đơn, đến nay chưa có tài liệu nào chứng minh Nhà nước từng trực tiếp quản lý, sử dụng hoặc đầu tư đối với phần diện tích đang tranh chấp.
Ngược lại, hồ sơ vụ án xuất hiện nhiều chứng cứ được cho là phản ánh quá trình sử dụng đất lâu dài của gia đình như các ngôi mộ gia tộc tồn tại từ nhiều thập niên trước, hệ thống cột mốc ranh giới hình thành trước năm 1975, biên bản đo đạc từ những năm 1990 cùng xác nhận của các hộ dân sinh sống lâu năm trong khu vực.
Theo luật sư, trong thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai, các dấu tích lịch sử, quá trình quản lý thực tế, sự thừa nhận của các hộ giáp ranh và hiện trạng sử dụng ổn định là những nguồn chứng cứ quan trọng cần được đánh giá toàn diện, thay vì chỉ căn cứ vào ký hiệu loại đất xuất hiện trên một số tài liệu địa chính được lập qua nhiều thời kỳ khác nhau.
Gần 30 năm theo đuổi một cuốn “sổ đỏ”, điều mà gia đình ông Bảnh, bà Cẩm mong muốn không chỉ là một phán quyết có lợi hay bất lợi, mà là một câu trả lời minh bạch cho những mâu thuẫn tồn tại trong hồ sơ: Vì sao một thửa đất từng được xác nhận đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận, từng hoàn tất các bước xác minh theo quy định, lại bị bác bỏ ở giai đoạn cuối cùng?
Dư luận hiện đang chờ đợi cấp phúc thẩm làm rõ những bất nhất trong quá trình giải quyết hồ sơ, đánh giá toàn diện các chứng cứ lịch sử, hiện trạng sử dụng đất và căn cứ pháp lý liên quan. Bởi đằng sau vụ kiện hành chính kéo dài này không chỉ là câu chuyện của một gia đình, mà còn là bài kiểm tra về tính minh bạch, nhất quán và trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền trong quá trình thực thi pháp luật đất đai.
Dấu hiệu vi phạm thủ tục tố tụng
Theo Luật Tố tụng hành chính, trong bản án sơ thẩm số 20/2026/TLST-HC ngày 22/1/2026, về việc khiếu kiện quyết định hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai do tòa án nhân dân TP.HCM xét xử cho thấy, bị đơn cũ là chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, UBND TP Thuận An và UBND phường Vĩnh Phú cũ.
Nay Chủ tịch UBND TP HCM, chủ tịch UBND phường Bình Hòa có nghĩa vụ kế thừa, nhưng vắng mặt khi xét xử, ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Hai lần đối thoại, mở phiên tòa, bị đơn đều vắng mặt, nhưng chủ tọa phiên tòa không công bố lời khai của tất cả bị đơn, cũng không công bố các văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Theo đơn kháng cáo của nguyên đơn, đây là dấu hiệu vi phạm khoản 3 Điều 188 Luật Tố tụng hành chính, xâm phạm nghiêm trọng nguyên tắc bảo đảm tranh tụng, xét xử công khai, khách quan. Luật quy định rõ: Khi đương sự vắng mặt, lời khai và tài liệu của họ vẫn phải được công bố tại phiên tòa để các bên còn lại có quyền tranh luận. Việc “im lặng hóa” lời khai của bị đơn có thể dẫn đến khoảng trống tố tụng, làm lệch cán cân xét xử.