Điều đó đặt ra yêu cầu đối với giáo dục đại học trong đào tạo nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp và xây dựng hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Gắn kết đào tạo với nhu cầu của doanh nghiệp
Nhận thức rõ vai trò then chốt của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của ngành công nghiệp bán dẫn, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1017/QĐ-TTg phê duyệt chương trình phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến 2050.
Theo đó, đến năm 2030, Việt Nam đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên phục vụ ngành công nghiệp bán dẫn. Chương trình đặt mục tiêu đào tạo ít nhất 15.000 nhân lực trong công đoạn thiết kế, ít nhất 35.000 nhân lực cho các công đoạn sản xuất, đóng gói, kiểm thử và các lĩnh vực liên quan. Đáng chú ý, chương trình đặt mục tiêu đào tạo chuyên sâu cho khoảng 1.300 giảng viên giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, cơ sở hỗ trợ đào tạo và doanh nghiệp.
Việc Chính phủ ban hành chương trình phát triển nhân lực bán dẫn với các mục tiêu cụ thể về quy mô đào tạo, đội ngũ giảng viên và nhân lực trình độ cao cho thấy bài toán cốt lõi của ngành không nằm ở công nghệ hay vốn đầu tư, mà trước hết là con người.
Đây cũng là quan điểm được nhiều chuyên gia chia sẻ. Giáo sư Kuan-Neng Chen, Đại học Quốc lập Dương Minh Giao Thông, Đài Loan (Trung Quốc) nhấn mạnh, bên cạnh công nghệ tiên tiến và cơ sở hạ tầng hiện đại, yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh dài hạn của một quốc gia trong lĩnh vực bán dẫn chính là hệ sinh thái đào tạo và phát triển nhân tài.
Từ kinh nghiệm của Đài Loan (Trung Quốc), Giáo sư Kuan-Neng Chen cho rằng, Việt Nam cần ưu tiên chiến lược đầu tư dài hạn cho giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực kỹ thuật chuyên sâu. Việc xây dựng đội ngũ kỹ sư và nhà nghiên cứu có năng lực toàn diện sẽ là nền tảng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Những yêu cầu đặt ra đối với ngành công nghiệp bán dẫn cũng là yêu cầu chung đối với nhiều lĩnh vực công nghệ chiến lược khác như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ số hay các công nghệ lõi. Trong đó, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học đóng vai trò quyết định. Nếu đầu tư cho giáo dục và điều kiện nền tảng để hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao thì sự gắn kết giữa cơ sở giáo dục-đào tạo và doanh nghiệp lại là yếu tố quyết định khả năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn của thị trường lao động và tốc độ phát triển công nghệ.
Theo Tiến sĩ Lê Quang Đạm, Tổng Giám đốc Công ty Marvell Việt Nam, các công nghệ như tích hợp vi mạch ba chiều, chiplet, đóng gói tiên tiến hay quang điện tử silicon đang trở thành những hướng phát triển chiến lược của ngành bán dẫn toàn cầu, nhất là trong bối cảnh nhu cầu về trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu và điện toán hiệu năng cao ngày càng gia tăng.
Để đáp ứng yêu cầu đó, cần tăng cường hơn nữa sự gắn kết giữa doanh nghiệp và cơ sở giáo dục đại học. Việc phối hợp trong đào tạo, thực tập, nghiên cứu chung và phát triển nguồn nhân lực không chỉ giúp chương trình đào tạo tiệm cận với nhu cầu thực tiễn mà còn tạo cơ hội để sinh viên tiếp cận sớm với công nghệ tiên tiến và môi trường làm việc chuyên nghiệp.
Xây dựng hệ sinh thái phát triển nhân tài
Thực tế cho thấy mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp và trường đại học đang trở thành xu hướng phổ biến tại nhiều quốc gia có ngành công nghiệp bán dẫn phát triển. Đây cũng là giải pháp quan trọng để rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động.
Từ góc độ cơ sở đào tạo, Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết, trong bối cảnh các chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu đang cấu trúc lại mạnh mẽ, Việt Nam có cơ hội trở thành một mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái công nghệ cao. Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội đó, đầu tư hạ tầng là chưa đủ mà yếu tố then chốt vẫn là con người.
Những kinh nghiệm từ doanh nghiệp và các cơ sở giáo dục đại học cho thấy, phát triển nguồn nhân lực cho các ngành công nghệ chiến lược không thể chỉ dựa vào nỗ lực của từng trường hay từng doanh nghiệp riêng lẻ mà cần một hệ sinh thái đồng bộ từ chính sách, đào tạo, nghiên cứu đến thu hút và phát triển nhân tài.
Những yêu cầu mới về phát triển nguồn nhân lực cho các ngành công nghệ chiến lược đang tạo ra những chuyển biến tích cực trong hệ thống giáo dục đại học. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ cấu đào tạo đang cho thấy sự thích ứng nhanh với nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực phục vụ các ngành công nghệ chiến lược, then chốt. Kết quả tuyển sinh năm 2025 cho thấy nhóm ngành STEM đạt 220.319 sinh viên, chiếm 33,3% tổng số tuyển sinh, tăng cả về quy mô và tỷ lệ so với năm 2024. Tổng quy mô đào tạo đại học thuộc nhóm ngành STEM hiện đạt 777.475 sinh viên, chiếm 29,6% tổng quy mô đào tạo toàn hệ thống.
Đáng chú ý, các ngành thuộc lĩnh vực khoa học-công nghệ, kỹ thuật và toán học đang ngày càng thu hút người học có năng lực học tập cao. Hơn 50 lượt ngành sư phạm và 17 lượt ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược như khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn, điều khiển và tự động hóa có điểm chuẩn xét tuyển từ kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông đạt từ 28/30 điểm trở lên.
|
Trong bối cảnh hiện nay, không chỉ nguồn lực tài chính mà nhân tài đã trở thành yếu tố cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia. Năng lực khoa học-công nghệ, sức mạnh kinh tế và trình độ phát triển xã hội đều phụ thuộc quyết định vào chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ nhân tài. Phát triển các cơ sở giáo dục đại học, xét đến cùng là để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng và phát triển nhân tài; qua đó đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế-xã hội và khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, giáo dục đại học còn là trụ cột thúc đẩy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Vì vậy, cùng với việc nâng cao chất lượng đào tạo, cần xây dựng hệ sinh thái đủ hấp dẫn để nhân tài có thể ở lại, tìm thấy sự đồng điệu, hợp tác lâu dài vì sự phát triển của đất nước. Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn |
Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn khẳng định, trong bối cảnh hiện nay, không chỉ nguồn lực tài chính mà nhân tài đã trở thành yếu tố cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia. Năng lực khoa học-công nghệ, sức mạnh kinh tế và trình độ phát triển xã hội đều phụ thuộc quyết định vào chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ nhân tài. Phát triển các cơ sở giáo dục đại học, xét đến cùng là để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng và phát triển nhân tài; qua đó đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế-xã hội và khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, giáo dục đại học còn là trụ cột thúc đẩy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Vì vậy, cùng với việc nâng cao chất lượng đào tạo, cần xây dựng hệ sinh thái đủ hấp dẫn để nhân tài có thể ở lại, tìm thấy sự đồng điệu, hợp tác lâu dài vì sự phát triển của đất nước.