Giảm chi phí thể chế, tăng sức cạnh tranh cho nông nghiệp Việt

Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 35,88 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy những tín hiệu tích cực từ quá trình cải cách thể chế và đổi mới công tác quản lý khoa học trong ngành nông nghiệp và môi trường.
z795399467864779bfdc69c9301aab82157d6c908468fd-1783411404331857331499-1783413970.jpg
Từ chỗ phụ thuộc vào nguồn giống ngoại, đến nay Việt Nam đã chủ động nhiều loại giống chủ lực - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Cải cách thể chế: Giảm chi phí, tạo động lực từ sự linh hoạt

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục chịu tác động của biến động địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng và biến đổi khí hậu, ngành nông nghiệp và môi trường Việt Nam đang chuyển hướng mạnh mẽ từ tăng trưởng dựa vào mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng quản trị, cải cách thể chế và ứng dụng khoa học, công nghệ.

Bước vào năm 2026, sức ép từ thị trường quốc tế và yêu cầu phát triển bền vững đòi hỏi ngành phải thay đổi phương thức điều hành theo hướng linh hoạt, phản ứng chính sách nhanh hơn. Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, khi dư địa về diện tích và lao động ngày càng thu hẹp, động lực tăng trưởng mới phải đến từ việc giảm chi phí thể chế, nâng cao chất lượng quản trị và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Một trong những điểm nhấn nổi bật trong 6 tháng đầu năm là công tác hoàn thiện thể chế và cải cách thủ tục hành chính. Bộ đã rà soát toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật, dự kiến bãi bỏ 149 văn bản không còn phù hợp, tương đương khoảng 35% số văn bản thuộc diện rà soát. Đồng thời, 151 thủ tục hành chính được đơn giản hóa hoặc bãi bỏ, góp phần giảm thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp.

Ông Phan Tuấn Hùng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, cho biết Bộ đặt mục tiêu tiếp tục cắt giảm tối thiểu 10-15% thủ tục hành chính và giảm khoảng 20% chi phí tuân thủ trong thời gian tới. Theo lãnh đạo Bộ, cải cách thể chế không chỉ nhằm tinh gọn bộ máy mà còn tạo dư địa mới cho tăng trưởng, cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao sức cạnh tranh của ngành.

Cùng với cải cách thể chế, tư duy quản lý khoa học cũng đang được đổi mới theo hướng lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo. Tại cuộc họp về công tác quản lý khoa học ngày 7/7/2026, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp nhấn mạnh yêu cầu mỗi nhiệm vụ khoa học phải xác định rõ vấn đề cần giải quyết, đối tượng thụ hưởng và hiệu quả mang lại. Những đề tài chỉ phục vụ báo cáo hoặc thiếu khả năng ứng dụng sẽ không còn phù hợp với yêu cầu phát triển mới.

Theo ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, năm 2026 Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai 408 nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Điểm mới là việc phối hợp với Cục Chuyển đổi số xây dựng hệ thống giám sát trực tuyến và cơ sở dữ liệu dùng chung để theo dõi tiến độ, kết quả nghiên cứu, bảo đảm mỗi nhiệm vụ đều tạo ra giá trị thực tiễn và sử dụng hiệu quả nguồn lực ngân sách.

diep-17834115946591846570960-1783414004.png
Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp: "Lợi thế cạnh tranh của ngành sẽ không còn đến từ mở rộng diện tích hay tăng lao động, mà từ chất lượng thể chế, hiệu quả quản trị và năng lực đổi mới sáng tạo" - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

3 nhiệm vụ công nghệ chiến lược và dấu ấn ra đời hệ thống truy xuất nguồn gốc

Bộ cũng xác định 3 nhiệm vụ công nghệ chiến lược nhằm tạo bước đột phá cho ngành chăn nuôi và thủy sản, gồm: chọn giống cá tra bằng công nghệ hệ gen nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng và khả năng kháng bệnh; phát triển vaccine dịch tả lợn châu Phi thế hệ mới có khả năng bảo hộ đa chủng; và sản xuất vaccine lở mồm long móng nhị giá đạt tiêu chuẩn DIVA phục vụ xuất khẩu.

Ở lĩnh vực trồng trọt, năng lực nghiên cứu và sản xuất giống trong nước tiếp tục được nâng cao. Nhiều giống lúa chất lượng cao của Việt Nam đã khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế, góp phần nâng giá trị gia tăng cho nông sản và tăng tính chủ động trong bảo đảm an ninh lương thực.

Chuyển đổi số cũng đang trở thành nền tảng quan trọng của quá trình hiện đại hóa ngành. Ngày 30/6/2026, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản chính thức đi vào vận hành và nhanh chóng được triển khai tại 25/34 tỉnh, thành phố, tích hợp dữ liệu của hơn 18.500 sản phẩm từ 170 doanh nghiệp.

Theo ông Nguyễn Văn Long, hệ thống là bước triển khai cụ thể Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Việc kết nối đầy đủ 12 cơ sở dữ liệu chuyên ngành, đồng thời tái cấu trúc toàn bộ thủ tục hành chính lên môi trường điện tử, giúp tăng tính minh bạch, giảm chi phí và nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu truy xuất nguồn gốc của những thị trường xuất khẩu lớn như Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu.

Song song với mục tiêu tăng trưởng, ngành tiếp tục lồng ghép các yêu cầu về phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Đề án phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long đang được triển khai nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh. Các giải pháp chống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU), bảo vệ nguồn lợi thủy sản cũng được đẩy mạnh để chuẩn bị làm việc với Đoàn Thanh tra của Ủy ban châu Âu (EC).

Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, trong bối cảnh các nguồn lực truyền thống dần đạt tới giới hạn, lợi thế cạnh tranh của ngành sẽ không còn đến từ mở rộng diện tích hay tăng lao động, mà từ chất lượng thể chế, hiệu quả quản trị và năng lực đổi mới sáng tạo. Đây được xem là nền tảng để nông nghiệp Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, minh bạch, bền vững và nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.