Thế hệ trẻ Thủ đô tìm về ký ức những lớp học thời chiến

Nhân kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026), ngày 8/10, Bảo tàng Hà Nội tổ chức Tọa đàm “Lớp học thời chiến - Ký ức từ những vùng sơ tán”, tái hiện một giai đoạn đặc biệt của giáo dục Thủ đô qua ký ức của những giáo viên, học sinh từng học tập, giảng dạy tại các vùng sơ tán trong những năm chiến tranh.

Tọa đàm có sự tham gia của PGS.TS, Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Thị Huệ - nguyên Trưởng khoa Bảo tàng, nay là Khoa Di sản văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; ông Bùi Dương Hòa - nguyên giáo viên từng giảng dạy tại khu vực sơ tán năm 1972; ông Nguyễn Ngọc Long - nguyên học sinh Trường Tiểu học Cát Linh từng đi sơ tán năm 1972, cùng các giáo viên, học sinh, sinh viên và công chúng.

vung-so-tan-1791465475.jpg
Tọa đàm “Lớp học thời chiến - Ký ức từ những vùng sơ tán” tại Bảo tàng Hà Nội.

Qua lời kể của các nhân chứng, những lớp học từng được tổ chức tại đình, chùa, nhà dân, nhà kho hay những công trình tạm hiện lên với nhiều thiếu thốn nhưng vẫn duy trì việc dạy và học. Đó là những giờ học diễn ra giữa tiếng còi báo động, khi thầy trò phải tạm dừng bài giảng để xuống hầm, hào trú ẩn rồi trở lại lớp khi tình hình an toàn.

Những lớp học giữa thời chiến

PGS.TS Nguyễn Thị Huệ nhớ lại, năm 1965, chỉ ba ngày sau khi nhập học Trường Lý luận nghiệp vụ Văn hóa, bà cùng các bạn phải sơ tán tới Yên Dũng, Hà Bắc, nay thuộc Bắc Ninh.

Tại nơi sơ tán, lớp học được dựng bằng tranh, tre, nứa, lá. Lớp có 24 người, không có điện nên chủ yếu học vào ban ngày. Sách vở thiếu thốn, phấn được sử dụng tiết kiệm. Có thời điểm, sinh viên phải dùng cành cây viết xuống đất để học chữ Hán - Nôm.

Ngoài giờ học, sinh viên tham gia tăng gia sản xuất, trồng rau, luân phiên nhận lương thực, nhu yếu phẩm cho bếp tập thể. Cuộc sống đơn sơ nhưng tình cảm giữa thầy cô, sinh viên và người dân địa phương trở thành ký ức khó quên.

pgsts-nha-giao-uu-tu-nguyen-thi-hue-1791465475.jpg
PGS.TS Nguyễn Thị Huệ chia sẻ ký ức những năm tháng học tập tại vùng sơ tán.

Bà Huệ nhớ những mùa đông lạnh giá, nhà trường làm cho mỗi nữ sinh một chiếc giường đơn bằng tre, nhưng vì rét nên thường hai, ba người nằm cùng nhau cho ấm. Những món quà quê được mang đến chia sẻ cùng cả lớp trong những ngày xa nhà cũng trở thành kỷ niệm đặc biệt.

Quan trọng hơn, bà không quên sự đùm bọc của người dân địa phương dành cho thầy trò nhà trường trong những ngày sơ tán. Trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn, người dân đã chia sẻ nơi ở, lương thực và hỗ trợ cuộc sống của những người từ thành phố về.

Ở góc độ người dạy, ông Bùi Dương Hòa kể lại những năm tháng giảng dạy tại vùng sơ tán Hà Bắc. Năm 1972, sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, ông xung phong lên Yên Thế, Hà Bắc, giảng dạy theo nhiệm vụ của Ty Giáo dục Hà Bắc cũ.

Những lớp học khi ấy được đào sâu vào trong đồi, xung quanh là rừng dẻ. Các lớp không nằm liền nhau nhưng được nối bằng hệ thống giao thông hào. Mỗi lớp có khoảng 35 - 40 học sinh, mái hình chữ A dựng bằng cây nứa. Nơi ăn ở của giáo viên cũng hết sức đơn sơ, mỗi phòng chỉ có một chiếc giường, một bộ bàn và một chiếc hòm đựng đồ cá nhân.

Khi được hỏi về lý do lựa chọn công việc nhiều gian khó, thầy Hòa nhắc lại câu nói: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, thì gian khổ sẽ dành phần ai?”. Với tinh thần “Ba sẵn sàng”, trong điều kiện thiếu thốn, người thầy dạy Hóa học đã tìm cách giúp học sinh ghi nhớ kiến thức bằng những bài ca, bài thơ. Các bài học về hóa trị, đồng đẳng, đồng phân được chuyển thành những câu dễ nhớ để học sinh thuận tiện ghi nhớ.

lop-hoc-thoi-chien-1791465475.jpg
Thầy giáo Bùi Dương Hòa (giữa) và ông Nguyễn Ngọc Long (bên trái) chia sẻ ký ức về những lớp học, những ngày sơ tán năm 1972.

Câu chuyện của ông Nguyễn Ngọc Long lại đưa người nghe trở về với góc nhìn của một cậu học sinh Hà Nội. Năm 1972, khi mới tám, chín tuổi, đang học tại Trường Tiểu học Cát Linh, ông nghe loa thông báo lệnh sơ tán khẩn cấp rồi trở về nhà, thấy bố mẹ chuẩn bị quần áo, sách vở đưa ông về quê ngoại ở khu vực Chương Mỹ - Chùa Trăm Gian. “Tôi cũng không hiểu sơ tán là gì. Chỉ biết là mình sẽ về bà ngoại ở và học ở đó”, ông Long kể.

Tại nơi sơ tán, lớp học ban đầu được bố trí trong chùa làng, bên ngoài có hệ thống hầm trú ẩn. Khi bom đạn ác liệt hơn, lớp học chuyển xuống hầm. Học sinh cùng thầy cô và người dân địa phương tham gia đào hầm, đào hào.

Trong một lần đào hầm, ông Long bị bạn cuốc vào gót chân và được một đơn vị bộ đội phòng không gần đó đưa đi cấp cứu. Vết sẹo trên chân vẫn còn đến nay.

Nhưng ký ức về những ngày sơ tán không chỉ có bom đạn và thiếu thốn. Ông Long nhớ những lần được các bạn nông thôn dẫn đi khám phá đồng ruộng, bắt châu chấu, mò cua, bắt ốc và làm đồ chơi từ những vật liệu sẵn có. Những trải nghiệm ấy trở thành một phần tuổi thơ đặc biệt của cậu học trò Hà Nội.

Ông cũng nhớ những đêm cuối tháng 12/1972, khi từ vùng sơ tán nhìn về Hà Nội. “Trong đêm tối, cả Hà Nội sáng rực như một chảo lửa khổng lồ. Tiếng bom, tiếng máy bay B52 gầm rú bầu trời”, ông kể. Khi trở về Hà Nội, ông chứng kiến khu phố Khâm Thiên, nơi gia đình sinh sống, bị bom đạn tàn phá.

Lưu giữ ký ức cho thế hệ sau

Từ những câu chuyện của các nhân chứng, tọa đàm không chỉ tái hiện hoạt động dạy và học trong điều kiện chiến tranh mà còn làm nổi bật sự gắn kết giữa nhà trường và cộng đồng. Trong thời gian sơ tán, người dân đã chia sẻ chỗ ở, bữa ăn, nguồn nước, vật dụng sinh hoạt; cùng thầy cô, học sinh sửa sang nơi học, đào hầm, làm hào trú ẩn và hỗ trợ cuộc sống hằng ngày.

Theo Bảo tàng Hà Nội, những câu chuyện ấy là nguồn tư liệu có giá trị về lịch sử giáo dục và đời sống cộng đồng của Thủ đô trong chiến tranh. Vì vậy, cùng với việc tổ chức tọa đàm, Bảo tàng tiến hành ghi âm, ghi hình lời kể nhân chứng, đồng thời tiếp nhận thông tin, tài liệu, hình ảnh và hiện vật liên quan đến trường học, lớp học và đời sống sơ tán thời chiến.

Những bức ảnh, sách giáo khoa, vở ghi, giáo án, giấy tờ, thư từ, đồ dùng dạy học, đồ dùng học tập, vật dụng sinh hoạt hay kỷ vật của thầy và trò đều có thể góp phần bổ sung nguồn tư liệu phục vụ công tác sưu tầm, nghiên cứu, lưu trữ và trưng bày.

Đáng chú ý, Bảo tàng Hà Nội mong muốn tiếp nhận cả những câu chuyện, thông tin của nhân chứng trong trường hợp gia đình chưa có điều kiện trao tặng hiện vật. Mỗi tư liệu, hình ảnh hay lời kể được cung cấp đều góp phần giúp hoàn thiện bức tranh về đời sống giáo dục, sinh hoạt và tình cảm cộng đồng tại các vùng sơ tán.

bao-tang-ha-noi-1791465475.jpg
Các em học sinh được trải nghiệm làm mũ rơm thời chiến tại Bảo tàng Hà Nội.

Bên cạnh tọa đàm, chương trình còn có triển lãm ảnh tư liệu, trình chiếu hình ảnh, phim tư liệu và không gian “Lớp học thời chiến”. Người tham dự được trải nghiệm làm mũ rơm, khiên rơm, tìm hiểu hầm trú ẩn chữ A; giao lưu, hỏi - đáp giữa nhân chứng với học sinh, sinh viên và công chúng.

Thông qua những hoạt động này, những ký ức từng được lưu giữ trong câu chuyện của mỗi gia đình được đưa trở lại không gian công cộng, giúp thế hệ trẻ có thêm cơ hội hình dung về việc học tập, sinh hoạt trong những năm tháng chiến tranh.

Tọa đàm “Lớp học thời chiến - Ký ức từ những vùng sơ tán” vì thế không chỉ là cuộc gặp gỡ với những nhân chứng của một thời đã qua, mà còn là hoạt động góp phần bổ sung tư liệu cho lịch sử giáo dục Hà Nội. Những lớp học giữa đình, chùa, nhà dân hay dưới những mái hầm đơn sơ nhắc nhớ về sự bền bỉ của thầy và trò, sự đùm bọc của cộng đồng và giá trị của những ngày tháng hòa bình hôm nay.