Tòa phủ nhận quyền sử dụng đất ổn định gần nửa thế kỷ
Theo hồ sơ vụ án, bà Huỳnh Ngọc Cẩm và ông Nguyễn Văn Bảnh là người đang trực tiếp sử dụng thửa đất số 244, tờ bản đồ 68, tại phường Bình Hòa (trước đây là phường Vĩnh Phú, Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương cũ) từ mấy chục năm qua.
Ngày 16/10/2021, bà Cẩm, ông Bảnh làm đơn kiến nghị đến Chủ tịch UBND TP Thuận An để cấp đổi, bổ sung, cập nhật diện tích ngoài sổ, chưa được cấp giấy tờ là thửa 244 mà gia đình đang sử dụng.
Đơn bà Huỳnh Ngọc Cẩm đứng tên đăng ký đất sản xuất nông nghiệp được chính quyền xác nhận phù hợp.
Năm 2022, Văn phòng Đăng ký đất đai TP Thuận An đã lập bản mô tả hiện trạng thửa đất, thẩm tra cột mốc có từ trước năm 1975 đến nay. Bản vẽ được kiểm định hợp pháp ngày 20/12/2022 xác nhận ông Bảnh, bà Cẩm đã thực hiện xong nghĩa vụ tài chính đối với TP Thuận An. Việc xác minh có chữ ký của cán bộ địa chính phường, cán bộ đo đạc và các hộ giáp ranh các hộ liền kề…
Ông Nguyễn Văn Bảnh, chủ đất đứng kế bên mương nước mà Chính quyền Thành phố Thuận An cũ cho là đất mặt nước, nên không cấp sổ cho gia đình ông Bảnh
Theo qui trình cấp giấy chứng nhận của luật đất đai, ngày 24/11/2022, UBND phường Vĩnh Phú ra thông báo niêm yết công khai xác nhận người sử dụng đất là bà Huỳnh Ngọc Cẩm. Sau đó, phường đã đề nghị TP Thuận An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 244 cho ông Bảnh, bà Cẩm theo qui định của luật đất đai.
Từ những căn cứ hợp pháp trên, ngày 7/3/2023. Phường Vĩnh Phú xác nhận hồ sơ ông Bảnh, bà Cẩm đúng hiện trạng, đất chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Quan từ năm 1999, sử dụng ổn định đến nay, không tranh chấp, phù hợp qui hoạch, đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đây là hồ sơ đất đai, phản ánh thực trạng sử dụng đất hợp pháp, công khai, liên tục của người dân. Tuy nhiên, không hiểu lý do gì Phòng Tài nguyên và Môi trường TP Thuận an lại ban hành báo cáo số 153/BC-TNMT ngày 29/3/2023 đề nghị UBND TP Thuận An trả hồ sơ và không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bổ sung thửa 244 cho ông Bảnh, bà Cẩm.
Ngày 3/4/2023, UBND TP Thuận An ban hành văn bản 821 cho rằng thửa đất 244 là đất Mn/Hg (đất mặt nước- 494,4m chưa đưa vào sử dụng), yêu cầu người dân xác minh lại. UBND phường Vĩnh Phú đã xác minh lại hiện trạng đất bằng biên bản 253/BBXM ngày 18/5/2023 là đất giáp mương nước hiện hữu có độ rộng từ 1.5-3.4m, chứ không có mặt nước. Hiện các hộ dân trong khu vực liền kề đều được đều được cấp giấy chưng nhận và thể hiện mương thoát nước. Biên bản này khẳng định thử đất 244 là một phần thửa đất 1042, có nguồn gốc đất lúa, chứ không phải đất mặt nước, như khẳng định của phòng tài nguyên môi trường Thuận An.
Biên bản xác minh của Phường Vĩnh Phú là đất mương nước và nguồn gốc đất lúa.
Thế nhưng, bản án hành chính sơ thẩm số 20/2026/HC-ST ngày 22/01/2026 của TAND TP.HCM đã bác yêu cầu khởi kiện của người dân. Theo đó, quyền sử dụng đất ổn định nhiều chục năm tiếp tục bị “treo”, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Theo Luật Tố tụng hành chính, bị đơn cũ là chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, UBND TP Thuận An và UBND phường Vĩnh Phú cũ. Nay Chủ tịch UBND TP HCM, chủ tịch UBND phường Bình Hòa có nghĩa vụ kế thừa, nhưng vắng mặt khi xét xử, ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Hai lần đối thoại, mở phiên tòa, bị đơn đều vắng mặt, nhưng chủ tọa phiên tòa không công bố lời khai của tất cả bị đơn, cũng không công bố các văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Theo đơn kháng cáo của nguyên đơn, đây là dấu hiệu vi phạm khoản 3 Điều 188 Luật Tố tụng hành chính, xâm phạm nghiêm trọng nguyên tắc bảo đảm tranh tụng, xét xử công khai, khách quan. Luật quy định rõ: Khi đương sự vắng mặt, lời khai và tài liệu của họ vẫn phải được công bố tại phiên tòa để các bên còn lại có quyền tranh luận. Việc “im lặng hóa” lời khai của bị đơn đã lộ ra khoảng trống tố tụng, làm lệch cán cân xét xử.
Bản án sơ thẩm đã dựa vào Công văn số 1839/UBND-KT ngày 28/6/2023 của UBND TP Thuận An để xác định loại đất Mn/Hg (đất mặt nước chưa vào sử dụng và bắt buộc phải có hồ sơ quản lý thửa đất đó tại địa phương) để không công nhận quyền sử dụng đất cho ông Bảnh, bà Cẩm.
Tòa bỏ qua những văn bản có lợi cho dân là thửa đất 244, xác minh lại hiện trạng tại biên bản số 253/BBXM ngày 18/05/2023 là hiện trạng mương nước có từ trước năm 1975 đến nay, không phải đất mặt nước. Việc thửa đất 244 không có ký hiệu quản lý đất Mn/Hg tại sổ mục kê là sai sót của cơ quan có thẩm quyền và qui định để điều chỉnh là căn cứ theo Điều 106 của Luật Đất đai.
Việc Tòa án chỉ dựa vào một văn bản hành chính duy nhất, trong khi bỏ qua hệ thống hồ sơ đo đạc, quản lý, niêm yết công khai và thực tế sử dụng đất kéo dài hàng chục năm, đặt ra nghi vấn về tính toàn diện và khách quan của bản án.
Khiếu nại đúng luật nên bị “ngâm”?
Trước đó, bà Cẩm, ông Bảnh đã gửi đơn khiếu nại văn bản 1839/UBND-KT nếu là đất mặt nước, chưa sử dụng thì bắt buộc phải có hồ sơ quản lý thửa 244 tại phường Vĩnh Phú. Trong khi đó, hồ sơ mộc kê ở phường thì thửa đất này có nguồn gốc đất lúa từ trước 1975 tời nay.
Thanh tra TP Thuận An đã ghi nhận ý kiến này, nhưng UBND TP Thuận An lại chỉ đạo Phường Vĩnh Phú ra Thông báo số 788/TB-UBND ngày 08/11/2023 thu hồi toàn bộ 9 loại văn bản, hồ sơ xác minh, xác nhận, có đóng dấu mộc đỏ của phường Vĩnh Phú khẳng định thửa đất 244 đu điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bảnh, bà Cẩm.
Trao đổi với phóng viên, bà Huỳnh Ngọc Cẩm nghẹn ngào: “Gia đình tôi sử dụng mảnh đất này từ trước năm 1975, có mốc ranh rõ ràng, hàng xóm ký giáp ranh đầy đủ. Nhà nước đo đạc, lập hồ sơ, xác nhận rồi, nhưng giờ lại nói đất tôi không hợp pháp. Tôi không hiểu pháp luật bảo vệ người dân ở chỗ nào.”
Còn Nguyễn Văn Bảnh bức xúc: “Chúng tôi chỉ xin được công nhận đúng phần đất mình đang sử dụng thực tế. Hồ sơ đã được thụ lý, niêm yết công khai, không ai tranh chấp. Nhưng khi ra tòa, những chứng cứ quan trọng nhất lại không được xem xét đầy đủ. Chúng tôi buộc phải khởi kiện để đòi lại công bằng chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình tôi.”
Theo quy định của Luật Đất đai, trường hợp có sai sót trong đo đạc, xác định ranh giới, loại đất thì trách nhiệm thuộc về cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Gia đình ông Bảnh, bà Cẩm kê khai và sử dụng đất theo đúng hiện trạng, còn việc đo đạc, xác nhận hồ sơ đều do cơ quan chuyên môn thực hiện.
Người đại diện nguyên đơn nhận định: “Trong tố tụng hành chính, Tòa án cần làm rõ tính hợp pháp của văn bản hành chính bị kiện và trách nhiệm của cơ quan. Nếu không làm rõ trách nhiệm, việc kiểm soát quyền lực hành chính sẽ khó đạt được.”
Phường Vĩnh Phú đã ra thông báo đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thử 244 cho bà Huỳnh Ngọc Cẩm
Từ vụ án thửa đất 244, cấp phục thẩm cần xem xét việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng với chứng cứ công khai, minh bạch. Trách nhiệm của cơ quan hành chính trong quản lý đất đai. Việc xem xét thấu đáo vụ án ở cấp phúc thẩm nhằm đảm bảo quyền lợi của các đương sự, góp phần hoàn thiện áp dụng pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hành chính theo đúng tinh thần Hiến pháp.
Vụ án trên, khiến dư luận đặt dấu hỏi về trách nhiệm của cơ quan hành chính khi ban hành văn bản, thu hồi vô tội vạ. Vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân, đừng để họ phải khiếu kiện suốt nhiều năm. Trong khi quyền sử dụng đất bị “treo”, đời sống bị ảnh hưởng nghiêm trọng, là điều cần được xem xét lại một cách thấu đáo ở cấp phúc thẩm.
Việc sử dụng công văn hành chính làm căn cứ quyết định số phận pháp lý của thửa đất đặt ra nguy cơ hợp thức hóa sai sót trong quản lý đất đai, đẩy rủi ro pháp lý sang người dân – đối tượng yếu thế trong quan hệ hành chính.
Từ các vấn đề nêu trên, người đại diện nguyên đơn kiến nghị: “Tòa án cấp phúc thẩm cần xem xét hủy bản án hành chính sơ thẩm do có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đánh giá lại toàn bộ chứng cứ một cách đầy đủ, khách quan. Làm rõ trách nhiệm của cơ quan hành chính và cá nhân có liên quan. Bảo đảm đúng tinh thần thượng tôn pháp luật, không để thiếu sót của Nhà nước trở thành gánh nặng cho người dân.
Dư luận kỳ vọng Tòa án phúc thẩm sẽ khách quan, công tâm, không để những thiếu sót của cơ quan quản lý và khoảng trống tố tụng tiếp tục đẩy người dân vào vòng luẩn quẩn khiếu kiện kéo dài.