Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng thay mặt Chính phủ ký Nghị định số 346/2026/NĐ-CP ngày 5/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp.
Một trong những điểm mới của Nghị định là sửa đổi quy định về các loại hình sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp. Theo đó, bên cạnh bảo hiểm đối với rủi ro định danh, bảo hiểm mọi rủi ro và bảo hiểm đối với tổn thất về thu nhập, quy định mới bổ sung, làm rõ các loại hình bảo hiểm theo chỉ số năng suất, chỉ số thời tiết và chỉ số viễn thám.
Đối với bảo hiểm theo chỉ số năng suất, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường căn cứ vào mức sụt giảm năng suất thực tế của một khu vực địa lý theo thỏa thuận trong hợp đồng, không phụ thuộc vào tổn thất thực tế của đối tượng được bảo hiểm.
Với bảo hiểm theo chỉ số thời tiết, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường theo biến động của các chỉ số thời tiết như mưa, gió, hạn hán, ngập lụt, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần... theo thỏa thuận tại hợp đồng, cũng không phụ thuộc vào tổn thất thực tế của đối tượng bảo hiểm.
Tương tự, bảo hiểm theo chỉ số viễn thám được thực hiện trên cơ sở biến động của chỉ số viễn thám theo thỏa thuận trong hợp đồng. Nghị định cũng cho phép triển khai các loại hình sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp khác theo thỏa thuận giữa các bên.
Để bảo đảm minh bạch, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm về cách xác định tổn thất thực tế đối với các loại hình bảo hiểm dựa trên tổn thất và cách xác định số tiền bồi thường đối với bảo hiểm theo chỉ số.
Nghị định 346/2026/NĐ-CP đồng thời bổ sung quy định về nguồn cung cấp chỉ số thời tiết và chỉ số viễn thám. Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm có thể lựa chọn nguồn cung cấp từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia thuộc Cục Khí tượng Thủy văn; Hệ thống Thông tin dịch vụ khí hậu của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO); Trung tâm Giám sát nông nghiệp, tài nguyên và môi trường thuộc Cục Viễn thám quốc gia.
Các nguồn dữ liệu khác cũng có thể được sử dụng nếu bảo đảm độ tin cậy về các yếu tố khí hậu, chỉ số viễn thám, được nhà tái bảo hiểm quốc tế xác nhận hoặc chấp thuận và được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm.
Nghị định mới mở rộng phạm vi đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp. Ngoài ba nhóm gồm cây trồng, vật nuôi và nuôi trồng thủy sản đã được quy định tại Nghị định 58/2018/NĐ-CP, Nghị định 346/2026/NĐ-CP bổ sung nhóm “đối tượng bảo hiểm khác”. Nhóm này bao gồm cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản và cây lâm nghiệp chính, chủ lực thuộc danh mục do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương công bố.
Việc mở rộng này tạo thêm dư địa để các địa phương lựa chọn đối tượng bảo hiểm phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi và định hướng phát triển của từng địa bàn.
Đáng chú ý, Nghị định 346/2026/NĐ-CP điều chỉnh tăng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp đối với các nhóm đối tượng. Theo quy định mới, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm, tăng 5 điểm phần trăm so với mức tối đa 90% trước đây. Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ tối đa 50% phí bảo hiểm, tăng đáng kể so với mức 20% hiện hành.
Đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp, mức hỗ trợ tối đa được nâng lên 30%, tăng 10 điểm phần trăm. Đối tượng được hưởng chính sách gồm doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật Hợp tác xã, nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Một trong những điều kiện là tổ chức có hợp đồng liên kết gắn với sản phẩm nông nghiệp thuộc đối tượng được hỗ trợ bảo hiểm, đáp ứng các quy định về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Ngoài ra, tổ chức có sản phẩm nông nghiệp được chứng nhận bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm hoặc được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao, hoặc đáp ứng các điều kiện về đăng ký đầu tư, xác nhận của Ban quản lý khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định cũng thuộc diện được xem xét hỗ trợ.
Nghị định quy định căn cứ chiến lược, kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp và đặc thù của từng địa phương, mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể triển khai chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp trên toàn địa bàn hoặc tại một số địa bàn cấp xã.
Một thay đổi đáng chú ý khác là thẩm quyền quyết định chính sách hỗ trợ được phân cấp mạnh hơn cho địa phương. Theo Nghị định 346/2026/NĐ-CP, căn cứ các quy định về đối tượng, mức hỗ trợ, nguồn kinh phí và tình hình thực tế, khả năng cân đối ngân sách, HĐND cấp tỉnh quyết định địa bàn được hỗ trợ trong phạm vi tỉnh, thành phố; đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ; loại rủi ro được hỗ trợ; mức hỗ trợ và thời gian thực hiện chính sách.
Quy định này thay đổi so với Nghị định 58/2018/NĐ-CP, trong đó nhiều nội dung về đối tượng, loại rủi ro, mức hỗ trợ và địa bàn thực hiện được xác định thông qua quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm công bố các nội dung quyết định trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và UBND cấp xã thuộc địa bàn được hỗ trợ.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được thông báo, UBND cấp xã thuộc địa bàn được hỗ trợ phải tổ chức tập huấn, tuyên truyền về bảo hiểm nông nghiệp.
Việc phân cấp thẩm quyền cho HĐND cấp tỉnh được kỳ vọng giúp chính sách bảo hiểm nông nghiệp sát hơn với thực tiễn sản xuất, chủ động hơn trong lựa chọn đối tượng, địa bàn và rủi ro cần hỗ trợ, đồng thời gắn chính sách hỗ trợ với khả năng cân đối ngân sách và định hướng phát triển của từng địa phương.
Nghị định số 346/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/10/2026.